Nơi ghi lại những kỷ niệm liên quan đến Trung Học Đất-Đỏ Phước-Tuy, văn học nghệ thuật và kỹ thuật tân tiến. Bài vở, tài liệu, hình ảnh và góp ý, xin email đến truongdatdo@gmail.com
Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019
CÔNG DỤNG CUẢ OXYGIÀ (hydrogen peroxide H2O2)
CÔNG DỤNG CUẢ OXYGIÀ
Trường hợp đễ lâu ngày lổ tai bị bịt kín như nút chai ( ear impaction ) tai không nghe được cần nhỏ tai với oxy già nhiều lần cho mềm sau đó rửa tai ( BS) ear washing khai thông thính lực,cũng có thể dùng ở nhà với ông bơm nước ấm rửa sạch ống tai.
HAPPY NEW YEAR
Ban nhạc ABBA giờ ra sao sau 40 ca khúc Happy New Year ra đời
TPO - Gần 40 năm kể từ khi ca khúc nổi tiếng “Happy new year’ ra mắt công chúng, các thành viên ban nhạc ABBA đã không còn sát cánh cùng nhau, mỗi người đều chọn cho mình hướng đi riêng.
Nhóm nhạc huyền thoại ABBA.Nhóm nhạc huyền thoại ABBA.
Tuổi già cô đơn, ẩn dật của 'cô gái vàng' ban nhạc ABBA
Dự án tái hợp đặc biệt của ABBA
Nhóm ABBA sau 36 năm: Người ẩn dật, kẻ thành triệu phú
Một năm mới đến, giai điệu quen thuộc của ca khúc “Happy new year” của ABBA lại vang lên ở hầu khắp nơi trên đất nước Việt Nam. Tính đến thời điểm hiện tại, bài hát nổi tiếng này chạm mốc 39 tuổi đời.
“Happy new year” ra đời vào năm 1980, với cái tên ban đầu là “Daddy Don't Get Drunk On Christmas Day”, vốn không dành để chào đón năm mới. Mãi đến năm 1999, tận dụng việc cả thế giới đang háo hức chuẩn bị bước sang một thiên niên kỷ mới, ABBA chính thức tung ra “Happy New Year” dưới dạng đĩa đơn.
Hai năm sau khi ca khúc ra đời (1982), nhóm nhạc ABBA chính thức tan rã, kết thúc 10 năm gắn bó, và chưa từng tái hợp.
ABBA là ban nhạc pop đình đám nhất từ trước đến nay của Thụy Điển, đồng thời cũng thuộc danh sách những nhóm nhạc huyền thoại của thế giới.
Ban nhạc được thành lập vào năm 1972, tên nhóm được đặt theo tên của các thành viên Agnetha Faltskog, Bjorn Ulvaeus, Benny Andersson và Anni-Frid Lyngstad. Họ chiến thắng trong cuộc thi Eurovision Song vào năm 1974, tạo bước đệm để tên tuổi vang danh khắp thế giới.
Trong suốt con đường sự nghiệp, nhóm tiêu thụ được hơn 380 triệu album và đĩa đơn trên toàn thế giới, trở thành ban nhạc đầu tiên đến từ một quốc gia không nói tiếng anh đạt được thành công rực rỡ ở các quốc gia nói tiếng Anh.
Không chỉ hợp tác với nhau trong âm nhạc, hai cặp nam nữ trong ABBA đã nên duyên vợ chồng. Benny và Anni-Frid kết hôn trong giai đoạn 1978- 1980. Bjorn và Agnetha chung sống với nhau từ năm 1971 – 1979 và có hai con chung, một trai và một gái.
Cùng với các cuộc hôn nhân tan vỡ, ABBA chia tay nhau vào năm 1982. Dù đã “đường ai nấy đi”, nhóm vẫn “bội thu” nhờ phát hành ABBA Gold vào năm 1992, bán được gần 30 triệu bản trên toàn thế giới.
Năm 2018, nhóm tái xuất sau 35 năm để thu âm hai ca khúc “ Still Have Faith In You” và “Don't Shut Me Down”. Hai năm trước đó, 4 thành viên cũng từng xuất hiện cùng nhau trên sân khấu trong bữa tiệc kỷ niệm 50 năm hợp tác giữa Bjon Ulvaeus và Benny Andersson. Tuy nhiên, họ phủ nhận về khả năng tái hợp.
Ban nhạc ABBA giờ ra sao sau 40 năm ca khúc ‘Happy New Year’ ra đời?
ABBA tái xuất khi tuổi đã xế chiều.
1. Agnetha Fatskog
Sau khi ABBA tan rã, Agnetha Fatskog tiếp tục gặt gái thành công với tư cách ca sĩ solo trong giai đoạn 1982 – 1988.
Tuy nhiên, sự nghiệp của giọng ca sinh năm 1950 bị gián đoạn một thời gian dài do loạt biến cố trong cuộc sống.
Ban nhạc ABBA giờ ra sao sau 40 năm ca khúc ‘Happy New Year’ ra đời?
Hai cuộc hôn nhân tan vỡ (lần 2 với Tomas Sonnenfeld từ 1990 – 1993), gặp tai nạn giao thông kinh hoàng vào năm 1983, mẹ ruột tự tử vào năm 1994 và bị người yêu cũ bám đuôi buộc Agnetha phải sống ẩn dật từ năm 1989 – 2004.
Năm 2013, Agnetha Fatskog lần đầu tiên xuất hiện trở lại sân khấu trực tiếp sau 25 năm tại BBC Children in Need, song ca cùng Gary Barlow.
Hiện tại, Agnetha đang sống một mình ở một trang trại thuộc ngoại ô thành phố Stockholm.
2. Anni-Frid Lyngstad
Cũng trở thành nghệ sĩ solo sau khi rời ABBA, Anni-Frid vẫn duy trì được phong độ, với album solo đầu tiên bán được hơn 1,5 triệu bản.
Cô tái hôn với Hoàng tử Heinrich Ruzzo Reuss von Plauen của xứ Plauen vào năm 1992. Tuy nhiên, Heinrich Ruzzo qua đời ở tuổi 49 vào năm 1999 vì bệnh ung thư. Nữ ca sĩ sinh năm 1945 liên tiếp gánh chịu nỗi đau mất người thân khi một năm trước đó, con gái Lise-Lotte thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi.
Ban nhạc ABBA giờ ra sao sau 40 năm ca khúc ‘Happy New Year’ ra đời?
Anni-Frid
Chồng mất, Anni-Frid được thừa kế gia tài “khổng lồ” được cho là khoản 75 triệu bảng Anh.
Ca sĩ sinh năm 1945 hiện sống cùng bạn đời người Anh Henry Smith trong một ngôi làng nhỏ tại Thụy Sĩ. Frida là một trong những người góp sức mở Bảo tàng ABBA ở Stockholm, Thụy Điển năm 2013.
3. Benny Andersson và Bjorn Ulvaeus
Benny và Bjorn tiếp tục làm việc cùng nhau sau khi rời ABBA. Hai người đồng sáng tác các vở nhạc kịch đình đám như Chess, Mamma Mia…
Bjorn và Benny còn đồng sản xuất bộ phim Mamma Mia! (2008), Mamma Mia! Here We Go Again (2018). Cả hai cũng thành lập công ty Littlestar (London), chuyên khai thác bản quyền những ca khúc lấy cảm hứng từ vở nhạc kịch Mamma Mia!. Theo Time, “cặp bài trùng” kiếm được 4,3 triệu USD từ công việc này. Họ còn được trao Giải thưởng Ivor Novello vào năm 2008.
Ban nhạc ABBA giờ ra sao sau 40 năm ca khúc ‘Happy New Year’ ra đời?
Benny Andersson.
Về đời tư, sau khi ly hôn Anni-Frid, Benny tái hôn với Mona Norklit, một dẫn chương trình người Thụy Điển. Cặp đôi có với nhau một con trai.
Nhạc sĩ sinh năm 1946 từng nghiện rượu trong thời gian dài. Đến năm 2001, ông mới cai nghiện thành công. Hiện tại, Benny là người giàu nhất trong nhóm, sở hữu khối tài sản 100 triệu bảng Anh.
Ban nhạc ABBA giờ ra sao sau 40 năm ca khúc ‘Happy New Year’ ra đời? -
4. Bjorn Ulvaeus.
Bjorn Ulvaeus.
Bjorn Ulvaeus cũng tìm được hạnh phúc mới bên nhà báo Lena Källersjö vào năm 1981. Họ có với nhau 2 con gái. Hiện, nhạc sĩ sinh năm 1945 đang sống ở Thụy Điển, và có khoảng 90 triệu bảng Anh. Tuy vậy, cựu thành viên ABBA gặp vấn đề về sức khỏe khi từng tiết lộ bị mắc chứng mất trí nhớ.
TÚ OANH
Theo The Sun
Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018
Triết Lý Cà Phê Và Tình Yêu
Triết Lý Cà Phê Và Tình Yêu
..............................
Để có được một ly cà phê ngon – người pha đòi hỏi phải có một kiến thức rộng rãi. Để có một tình yêu thật sự đẹp, không thể không đòi hỏi những sự vun vén của cả hai.
1. Đừng nên hâm nóng lại cà phê. Bởi nếu hâm nóng lại thì cà phê sẽ mất hết mùi vị và gây ra vị đắng. Uống không ngon và sẽ có mùi khét.
Cuộc sống có lẽ cũng như vậy. Việc hâm nóng lại cà phê cũng như việc suy nghĩ quá nhiều về quá khứ. Nhiều người đang sống trong hôm nay nhưng đầu óc thì vẫn luôn trông ngóng về những thứ đã qua. Họ nuối tiếc, họ nhìn mãi về một mối tình đã xa hoặc nhớ nhung về một người nào đó mà quên mất đi rằng – những việc đó chỉ mang lại sự buồn chán và khó chịu thậm chí là gây ra sự đớn đau cho chính họ mà thôi. Quá khứ là những thứ qua rồi, đừng nên khơi nhắc lại mà hãy sống với thực tại thì hay hơn…
2. Hãy bảo đảm cà phê bạn uống cần phải luôn tươi mới. Hãy uống ngay khi pha xong bởi cà phê chỉ nên giữ ấm khoảng 15 phút trên bếp trước khi hương vị của nó trở thành khó chịu. Thưởng thức ngụm cà phê đầu tiên với cảm giác sảng khoái, tuyệt vời…
Tại sao không bắt đầu lại mọi thứ trong hôm nay khi mà thực tại là cơ hội của sự đổi mới? Hãy nắm bắt nó khi cơ hội vẫn còn. Không nên lãng phí thời gian mà hơn hết là hãy biết sử dụng nó để mọi thứ trở nên có ích hơn… Thay đổi mình, thay đổi khẩu vị, thay đổi một ly cà phê và thưởng thức một mùi vị mới. Điều đó cũng nên lắm chứ khi mà mùi vị cũ – đã trở nên nhạt nhẽo đi nhiều rồi.
Tại sao không bắt đầu lại mọi thứ trong hôm nay khi mà thực tại là cơ hội của sự đổi mới? Hãy nắm bắt nó khi cơ hội vẫn còn. Không nên lãng phí thời gian mà hơn hết là hãy biết sử dụng nó để mọi thứ trở nên có ích hơn… Thay đổi mình, thay đổi khẩu vị, thay đổi một ly cà phê và thưởng thức một mùi vị mới. Điều đó cũng nên lắm chứ khi mà mùi vị cũ – đã trở nên nhạt nhẽo đi nhiều rồi.
3. Hãy rang cà phê đúng cách. Nếu xay quá nhuyễn cà phê sẽ trở nên quá đắng. Nếu xay quá thô cà phê sẽ chỉ là nước loãng.
Về nguyên tắc này cũng giống như việc đòi hỏi về sự quan tâm, săn sóc trong tình yêu vậy. Nó nhắc nhở ta nên biết cân nhắc và trân trọng với những gì mình đang có. Sự quan tâm quá mức đôi khi sẽ không đem lại một kết quả như ý mà thậm chí còn làm hư hỏng một tình yêu. Nhưng ngược lại, nếu thiếu vắng đi sự săn sóc, hay vì quá vô tâm và hời hợt thì tình cảm cũng sẽ trở nên khô khan và nhạt nhẽo. Mất dần đi vị ngọt rồi sớm muộn cũng trở thành thứ nước loãng mà thôi.
Về nguyên tắc này cũng giống như việc đòi hỏi về sự quan tâm, săn sóc trong tình yêu vậy. Nó nhắc nhở ta nên biết cân nhắc và trân trọng với những gì mình đang có. Sự quan tâm quá mức đôi khi sẽ không đem lại một kết quả như ý mà thậm chí còn làm hư hỏng một tình yêu. Nhưng ngược lại, nếu thiếu vắng đi sự săn sóc, hay vì quá vô tâm và hời hợt thì tình cảm cũng sẽ trở nên khô khan và nhạt nhẽo. Mất dần đi vị ngọt rồi sớm muộn cũng trở thành thứ nước loãng mà thôi.
4. Đừng cố sử dụng lại bã cà phê – vì nó chỉ còn là vị đắng và sẽ có mùi khét khi pha.
Nên dứt khoát trong việc tình cảm. Đừng nên cố gắng vớt vát với những thứ đã không thuộc về mình. Việc đừng sử dụng lại bã cà phê cũng như việc không nên tìm gặp lại người yêu cũ. Sẽ chẳng thể đi đến một điều gì khi mà ta đứng này mà vẫn trông núi nọ. Tập trung và trân trọng với những gì mình đang có. Điều đó mới có thể tạo nên một hương vị cà phê thực sự cũng như là một điều cốt yếu để tạo dựng một hạnh phúc cho bản thân.
Nên dứt khoát trong việc tình cảm. Đừng nên cố gắng vớt vát với những thứ đã không thuộc về mình. Việc đừng sử dụng lại bã cà phê cũng như việc không nên tìm gặp lại người yêu cũ. Sẽ chẳng thể đi đến một điều gì khi mà ta đứng này mà vẫn trông núi nọ. Tập trung và trân trọng với những gì mình đang có. Điều đó mới có thể tạo nên một hương vị cà phê thực sự cũng như là một điều cốt yếu để tạo dựng một hạnh phúc cho bản thân.
5. Cuộc sống cũng giống như một ly cà phê. Bạn ngồi bên cửa sổ, nhấc tách cà phê lên… nhấp 1 ngụm… và chợt nhận ra rằng, ly cà phê chưa có đường. Rồi bởi vì ngại đứng dậy để lấy đường, bạn ngồi đó và uống ly cà phê đắng. Khi ly cà phê đã cạn, bạn mới phát hiện ra rằng đường đã không tan ra và dính ở đáy ly…
Chúng ta mất quá nhiều thời gian để băn khoăn tại sao cuộc đời lại quá ảm đạm, nhạt nhẽo…, và tốn rất nhiều thời gian đi tìm kiếm sự ngọt ngào trong khi ta chỉ cần khuấy lên. Chính tôi, chính bạn sẽ làm cho cuộc sống của mình đầy hương vị nếu ta không chờ đợi. Hãy tận hưởng ly cà phê của cuộc sống!
Chúng ta mất quá nhiều thời gian để băn khoăn tại sao cuộc đời lại quá ảm đạm, nhạt nhẽo…, và tốn rất nhiều thời gian đi tìm kiếm sự ngọt ngào trong khi ta chỉ cần khuấy lên. Chính tôi, chính bạn sẽ làm cho cuộc sống của mình đầy hương vị nếu ta không chờ đợi. Hãy tận hưởng ly cà phê của cuộc sống!
Lời kết: Để có được một ly cà phê ngon – người pha đòi hỏi phải có một kiến thức rộng rãi. Để có một tình yêu thật sự đẹp, không thể không đòi hỏi những sự vun vén của cả hai. Yêu như thế nào, cư xử và cách quan tâm ra sao, bên ly cà phêcuộc sống đã nói lên rất nhiều. Thôi thì hãy để một sáng đẹp trời, qua nhà đón người mà mình yêu mến. Nhẹ nhàng ăn sáng, rồi nhẹ nhàng thưởng thức một ly cà phê thật đậm đà và tươi mới. Không mùi khét, không vị đắng và chẳng còn loãng nhạt… Từ từ uống, từ từ tìm thưởng thức và từ từ tìm hiểu một Triết lý cà phê.
Còn Triết lý cà phê bột ... mỗi sáng múc một muỗng cho vào tách nước nóng , quậy tan , ực một cái rồi đi làm...có phải trong tình yêu cà phê loại này thể hiện cuộc sống "mì ăn liền" , khỏi tốn công.
Ara Nguyễn Hữu Phát
Ara Nguyễn Hữu Phát
Công dụng của tỏi.
Tháng 12 năm 1998, một cuộc hội thảo kéo dài hai ngày rưỡi đã được tổ chức tại Newport Beach, California, để thảo luận và trình bày kết quả nghiên cứu về công dụng của tỏi.
Hội thảo được Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ và Đại Học Pennsylvania bảo trợ, với sự tham dự của trên hai trăm khoa học gia, chuyên viên y tế, dinh dưỡng đến từ 12 quốc gia trên thế giới.
Kết luận của hội thảo là các cuộc nghiên cứu trong nhiều năm qua đã xác định những ích lợi của tỏi đối với sức khỏe con người.
Kinh nghiệm chữa bệnh bằng tỏi.
Chữ viết đầu tiên của dân Sanskrit cách đây 5000 năm đã nhắc đến TỎI nhiều lần.
Trong mộ cổ Ai Cập 6000 năm về trước có những củ tỏi khô nằm ướp trong nắm xương. Sách Y học Ai Cập trên 3000 năm về trước có ghi hai mươi bài thuốc tỏi để trị một số bệnh như đau bụng, đau nhức khớp xương, nhiễm độc, cơ thể suy nhược...
Công nhân xây đắp Kim Tự Tháp được cung cấp thực phẩm có tỏi để tăng cường sức lao động. Những giác đấu Hi Lạp, binh sĩ La Mã cũng được cho ăn tỏi để chiến đấu can trường, dũng cảm hơn.
Trong các cuộc hải hành, dân Virking đều mang tỏi theo làm lương thực và để trị bệnh khi cần đến.
Tỏi đã được các vị thầy thuốc xưa kia ca ngợi như một dược thảo có giá trị. Ông tổ nền y học tây phương Hippocrates (460-377 trước Công nguyên) đã coi tỏi là môn thuốc tốt để trị các bệnh nhiễm độc, bệnh viêm, bệnh bao tử, và loại trừ nước dư trong cơ thể.
Galen (129 – 199), một trong những danh y nổi tiếng sau Hippocrtes, đã ca tụng tỏi như môn thuốc dân tộc trị được nhiều bệnh.
Theo Pedonius Dioscorides (40 – 90), một danh y Hy Lạp, thì tỏi làm giọng nói trong trẻo, làm bớt ho, làm thông tắc nghẽn ở mạch máu, làm lợi tiểu, bớt đau răng, chữa bệnh ngoài da, và chữa cả hói tóc nữa.
Vào thế kỷ 16, Alfred Franklin nói với dân chúng thành phố Paris là nếu họ ăn tỏi tươi với bơ vào tháng Năm thì họ sẽ được khỏe mạnh trong những tháng còn lại.
Trong thế chiến thứ nhất, người Nga đã dùng tỏi để trị bệnh nhiễm vi trùng. Họ gọi tỏi là “thuốc kháng sinh Nga Sô”. Các bác sĩ Anh cũng đã biết dùng tỏi để trị vết thương làm độc ở chiến trường.
Khi có các dịch cúm vào đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, đã dùng tỏi như một phương tiện để chống lại sự hoành hành của bệnh.
Sách xưa có ghi lại câu chuyện về bốn tên trộm lừng danh ở thành phố Marseille: trong vụ dịch hạch kinh khủng ở thành phố này, có bốn tên trộm vẫn ngang nhiên vào nhà các người bị bệnh để trộm của mà không bị lây bệnh. Khi bị bắt, chính quyền hứa sẽ tha tội nếu họ nói bí quyết không lây bệnh. Bốn chú đạo trích khai là suốt thời gian dịch hạch, họ ăn rất nhiều tỏi tươi, do đó họ không bị bệnh.
Vào thời Trung Cổ, khi đi vào những vùng nhiễm độc, các thầy thuốc đều mang nhiều nhánh tỏi để phân phát cho dân chúng cũng như để ngăn chặn hơi độc xâm nhập vào mũi.
Các triết gia cũng có nhiều nhận xét về giá trị của tỏi.
Celsius, vào thế kỷ I đã khuyên dùng tỏi để trị nóng sốt và bệnh đường ruột.
Virgil (70 – 19) thấy tỏi làm tăng sức lực của nông dân.
Aristophanes (448 – 385 trước Công nguyên) thì nhắc nhở lực sĩ, chiến sĩ ăn tỏi trước khi xuất trận để chiến đấu cang cường hơn.
Dân Nga xưa kia ngâm tỏi với rượu vodka, để lâu hai tuần rồi uống và tin là sẽ sống lâu.
Dân Ukraine uống nước chanh ngâm tỏi để làm tăng sức lực, làm người trẻ ra.
Dân Da Đỏ bắt chước đoàn thám hiểm Tây Ban Nha, dùng tỏi để trị các bệnh khó tiêu, đau bụng, đau tai và họ rất ít bị bệnh yết hầu vì mùi tỏi làm cuống phổi mở rộng, hô hấp sể dàng.
Người Mỹ xưa kia chữa bệnh tim phổi bằng cách đắp tỏi giã nhỏ lên chân và họ giải thích là như vậy tỏi sẽ hút hết chất độc xuống để đưa ra ngoài. Tổng Thống Benjamin Franklin thích ăn súp nấu với tỏi, còn binh sĩ của Tổng Thống George Washington thì được cho thêm tỏi trong khẩu phần.
Vào đầu thế kỷ trước, bệnh lao rất phổ biến và khó trị vì chưa có thuốc kháng sinh. Các bác sĩ bèn chữa bằng tỏi và thấy là rất công hiệu để diệt vi trùng lao. Sau đó một thời gian, nước Mỹ bị dịch cúm và bệnh tinh hồng nhiệt, dân chúng bèn đốt tỏi trong nhà và hơi khói tỏi che trở nhiều người khỏi bị bệnh. Nhiều người còn nhai tỏi để ngửa bệnh cúm.
Năm 1941, bác sĩ Emil Weiss ở Chicago làm một cuộc thử nghiệm trị bệnh bằng tỏi cho 22 người mang các bệnh khác nhau như đau bụng, nhức đầu, táo bón. Kết quả là những người này hết bệnh.
Về niềm tin dị đoan, tỏi đã được dùng là vũ khí để trừ tà ma , quỷ quái. Dân Âu châu xưa rất sợ ma cà rồng hút máu và để xua đuổi, mỗi nhà đều cheo nhiều nhánh tỏi ở trước cửa. Văn tự Ấn Độ giáo từ nhiều ngàn năm trước có ví một củ tỏi như một tráng sĩ diệt trừ yêu quái.
Dân nài ngựa cheo vài nhánh tỏi vào cương để ngựa phi mau hơn. Nằm mơ thấy tỏi là điềm lành.
Trong các cộng đồng Do Thái xưa kia, vài nhánh tỏi được trang điểm vào áo cưới cô dâu với niềm tin là cuộc hôn nhân sẽ muôn vàn hạnh phúc.
Dân Ai Cập so sánh hương vị cay hôi của tỏi với những thăng trầm của cuộc đời.
Các tu sĩ nói với con chiên là khi họ cầm vài nhánh tỏi trên tay tức là đang cầm mọi phức tạp của cuộc đời. Và khi tuyên thệ, họ đặt tỏi trên bàn tay hay trên bàn thờ.
Bên Việt Nam ta, các cụ cheo tỏi trước cửa buồng đàn bà mang bầu để trẻ sinh ra được mẹ tròn con vuông, khỏe mạnh
Đông Y việt Nam ta ghi nhận công dụng trị bệnh của tỏi như sau: “tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc nằm trong hai kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chữa bệnh lỵ ra máu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đàm, chữa đầy chướng bụng, đại tiểu tiện khó khăn. Người âm nhu, nội thiệt, có thai, đậu chẩn, đau mắt không nên dùng.
Kết qủa nghiên cứu công dụng tỏi trong trị bệnh
Qua nhiều nghiên cứu khoa học và qua kinh nghiệm xử dụng của dân chúng, thì tỏi không những là một thực phẩm ngon mà còn có nhiều công dụng trị bệnh.
Nnăm 1951, hai nhà hóa học Thụy sĩ Arthur Stoll và Ewald Seebeck đã tìm ra hóa chất chính của tỏi là chất Alliin và men Allinase. Hai chất này được giữ riêng rẽ trong tế bào tỏi
1 - Tỏi và cholesterol.
Khi quan sát dân chúng ở một số vùng ăn nhiều tỏi, các nhà nghiên cứu thấy họ rất ít bị các bệnh về tim mạch, mặc dù họ ăn nhiều thịt động vật và uống nhiều rượu vang. Có người cho là do ảnh hưởng của rượu vang, nhưng các bác sĩ ở địa phương thì cho là nhờ uống rượu và ăn nhiều tỏi.
Sự kiện này thúc đẩy các chuyên viên của Đại Học Western Ontario, Canada, để tâm nghiên cứu và họ kết luận rằng một dân tộc càng ăn nhiều tỏi thì bệnh tim mạch càng ít. Bằng chứng là dân Triều Tiên ăn nhiều tỏi và họ cũng ít bị bênh tim.
Nhiều khoa học gia bèn nghiên cứu tương quan giữa tỏi và bênh tim ở súc vật trong phòng thí nghiệm. Họ đều thấy là tỏi làm chậm sự biến hóa của chất béo trong gan, khiến gan tiết ra nhiều mật, đồng thời cũng lấy bớt mỡ từ thành động mạch.
Các bác sĩ H.C. Bansal và Arun Bordia ở Ấn Độ nhận thấy khi ăn bơ với tỏi, cholesterol trong máu đã không lên cao mà còn giảm xuống.
Năm 1990, nghiên cứu do bác sĩ F.H. Mader ở Đức cho hay, nếu mỗi ngày ăn vài nhánh tỏi thì cholesterol sẽ giảm xuống tới 15%.
Một nghiên cứu tương tự ở Đại học Tulane, New Orleans do bác sĩ A. K. Jain thực hiện năm 1993 cho thấy người có cholesterol cao, khi dùng tỏi một thời gian, thì cholesterol giảm xuống được 6%. Đó là một sự giảm đáng kể.
Bác sĩ Benjamin Lau, thuộc Đại Học Loma Linda, California cho biết là tỏi giúp chuyển cholesterol xấu LDL thành cholesterol lành HDL. Còn bác sĩ Myung Chi của Đại Học Lincoln ở Nebraska chứng minh là tỏi làm hạ cholesterol và đường trong máu.
Một câu hỏi được nêu lên là tỏi có làm giảm cholesterol ở người có mức độ trung bình không? Các nhà nghiên cứu cho là tỏi có một vài ảnh hưởng, nhưng nếu cholesterol cao thì tác dụng của tỏi tốt hơn. Có bác sĩ còn cho là tỏi công hiệu hơn một vài âu dược hiện đang được dùng để chữa cholesterol cao trong máu.
Do hạ thấp cholesterol trong máu, tỏi có thể ngăn ngừa nguy cơ một số bệnh tim. Đã có nhiều bằng chứng rằng cholesterol trong máu lên cao là nguy cơ đưa tới các bệnh vữa xơ động mạch và dột quỵ.
2 - Tỏi và sự đông máu
Tỏi có tác dụng ngăn sự đóng máu cục, một nguy cơ của kích tim và tai biến động mạch não.
Máu cục gây ra do sự dính chùm của tiểu cầu mỗi khi có dấu hiệu cơ thể bị thương để ngăn ngừa sự xuất huyết.
Trong tỏi có chất Ajoene được bác sĩ Eric Block, Đại học Nữu Ước, khám phá ra. Theo ông ta, chất này có công hiệu như aspirin trong việc làm giảm sự đóng cục của máu, lại rẻ tiền mà ít tác dụng phụ không muốn. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của bác sĩ I.S. Menon là ở miền nam nước Pháp, khi ngựa bị máu đóng cục ở chân thì nông gia đều chữa khỏi bằng cách cho ăn nhiều tỏi và hành.
Bệnh viện Hải quân Hoa Kỳ trong trại Pendleton, California, cũng công bố là tỏi có chất ngừa đông máu do đó có thể làm máu lỏng và ngăn ngừa tai biến động mạch não, kích tim vì máu cục.
Ngay cả ông tổ của nền y học cổ truyền Ấn Độ Charaka vào thế kỷ thứ 2 cũng ghi nhận là “ tỏi giúp máu lưu thông dễ dàng, làm tim khỏe mạnh hơn và làm con người sống lâu. Chỉ vì mùi khó chịu của nó chứ không thì tỏi sẽ đắt hơn vàng”.
Các thầy thuốc xưa kia cũng nói là tỏi làm máu loãng hơn.Tác dụng này diễn ra rất mau, chỉ vài giờ sau khi dùng tỏi. Chưa có trường hợp nào trong đó ăn nhiều tỏi đưa đến máu loãng rồi dễ xuất huyết, vì tỏi chỉ làm máu loãng tới mức bình thường thôi.
3 - Tỏi và cao huyết áp
Tỏi được dùng để trị bệnh cao huyết áp ở Trung Hoa từ nhiều thế kỷ trước đây. Tại Nhật Bản, giới chức y tế chính thức thừa nhận tỏi là thuốc trị huyết áp cao.
Năm 1948, bác sĩ F.G. Piotrowski ở Geneve làm thế giới ngạc nhiên khi ông tiết lộ kết quả tốt đẹp khi dùng tỏi để trị cao huyết áp. Theo ông, tỏi làm giãn mở những mạch máu bị nghẹt hay bị co rút, nhờ đó máu lưu thông dễ dàng và áp lực giảm. Các nghiên cứu ở Ấn Độ, Gia Nã Đại, Đức cũng đưa đến kết quả tương tự.
Nhà sinh học V. Petkov thực hiện nhiều nghiên cứu ở Bulgarie cho hay tỏi có thể hạ huyết áp tâm thu từ 20-30 độ, huyết áp tâm trương từ 10 tới 20 độ.
4 - Tỏi và cúm
Trong các dịch cúm vào đầu thế kỷ trước, dân chúng đã dũng tỏi để ngăn ngừa sự lan tràn của bệnh này. Y học dân gian nhiều nước đã chữa cảm cúm bằng cách thoa tỏi tươi mới cắt vào bàn chân.
Trong dịch cúm ở Liên Xô cũ vào năm 1965, dân Nga đã tiêu thụ thêm trên 500 tấn tỏi để ngừa cúm. Trước đó, vào năm 1950, một bác sĩ người Đức đã công bố là tinh dầu tỏi có khả năng tiêu diệt một số vi sinh có hại mà không làm mất những vi sinh vật lành trong cơ thể.
Bác sĩ Tarig Abdullah ở trung tâm nghiên cứu tại Tampa, Florida, công bố năm 1987 là tỏi sống và tỏi chế biến đều làm tăng tính miễn dịch của cơ thể với vi trùng, ngay cả HIV và làm giảm nguy cơ vài bệnh ung thư. Cá nhân ông ta đã liên tục dùng mấy nhánh tỏi sống mỗi ngày từ năm 1973 và chưa bao giờ bị cảm cúm.
Từ năm 1950, bác sĩ J. Klosa bên Đức đã dùng tỏi để chữa lành những bệnh đau cuống họng, sổ mũi, ho lạnh. Ông ta vừa cho bệnh nhân uống vừa ngửi tinh dầu tỏi. Theo ông ta, đó là nhờ chất Alliin trong tỏi.
Trong bệnh cảm cúm, bệnh nhân thường sưng cuống phổi, bị ho, sổ mũi. Bác sĩ Irvin Ziment, California, nhận thấy tỏi có thể làm giảm những triệu chứng trên, làm bệnh nhân bớt ho, long đàm, thở dễ dàng và không bị nghẹt mũi. Theo vị thầy thuốc này thì vị hăng cay của tỏi kích thích bao tử tiết ra nhiều dịch vị chua; dịch vị này chuyển một tín hiệu lên phổi khiến phổi tiết ra nhiều dung dịch lỏng làm long đờm và đưa ra khỏi phổi.
Các bác sĩ bên Ba Lan trước đây dùng tỏi để trị bênh suyễn và viêm phổi ở trẻ em
5 - Tỏi và ung thư
Hiện nay đang có nhiều nghiên cứu coi xem tỏi có công dụng trị ung thư ở người như kết quả nhận thấy ở động vật trong phòng thí nghiệm hay không.
Từ năm 1952, các khoa học gia Nga Sô Viết đã thành công trong việc ngăn chặn sự phát triển của một vài tế bào ung bướu ở chuột.
Thí nghiệm ở Nhật Bản cho hay tỏi có thể làm chậm sự tăng trưởng tế bào ung thư vú ở loài chuột và tỏi có chất oxy hóa rất mạnh để ngăn chặn sự phá tế bào do các gốc tự do gây ra.
Tại viện Ung Thư M.D. Anderson, Houston, các bác sĩ đã cứu một con chuột khỏi bị ung thư ruột già bằng cách cho uống chất Sulfur trong tỏi. Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ đang đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu khả năng trị bệnh ung thư của hóa chất sulfur này.
Nghiên cứ tại Trung tâm Y khoa Sloan Kettering cho hay nước chiết của tỏi có thể chăn sự tăng trưởng tế bào ung thư nhiếp hộ tuyến.
6 - Tỏi dùng làm thuốc kháng sinh
Từ lâu, dân chúng tại nhiều quốc gia trên thế giới đã dùng tỏi để chữa một số bệnh gây ra do vi khuẩn như kiết lỵ, bệnh tiêu chẩy, bệnh thương hàn, viêm cuống họng, mụn nhọt ngoài da, thối tai và tỏi được gọi là thuốc kháng sinh dân tộc.
Trong hai thế chiến, tỏi được dùng để chữa vết thương cho binh sĩ tại chiến trường. Người ta cũng dùng tỏi để trị vết thương do côn trùng, rắn cắn. Nông dân, thợ săn đều mang theo tỏi phong hờ khi bị các sinh vật này cắn thì tự chữa.
Năm 1858, nhà bác học Pháp Louis Pasteur (1822 – 1895) đã chứng minh được công dụng diệt vi khuẩn của tỏi.
Năm 1944, nhà hóa học Chester J. Cavallito, làm việc cho công ty hóa chất Winthrop ở Hoa Kỳ, đã phân tích được hóa chất chính trong tỏi có công dụng như thuốc kháng sinh. Đó là chất Allicin, chỉ có trong tỏi chưa nấu hay chế biến. Kháng sinh này mạnh bằng 1/5 thuốc Penicilin và 1/10 thuốc Tetracycline, có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn, xua đuổi hoặc tiêu diệt nhiều sâu bọ, ký sinh trùng, nấm độc và vài loại virus.
Theo nhiều nghiên cứu, allicin có tác dụng ức chế sinh trưởng vi khuẩn nhiều hơn là diệt chúng. Nói một cách khác, chất này không giết vi khuẩn đã có sẵn mà ngăn chặn sự sinh sôi, tăng trưởng và như vậy có thể ngừa bệnh, nâng cao tính miễn dịch, làm bệnh mau lành.
Nghiên cứu tại Brazil năm 1982 đã chứng minh là nước tinh chất của tỏi có thể chữa được nhiều bệnh nhiễm độc bao tử, do thức ăn có lẫn vi khuẩn, nhất là loại Salmonella. Các nghiên cứu tại Đại Học California ở Davis cũng đưa đến kết luận tương tự. Ngoài ra, tỏi cũng được dùng rất công hiệu để trị bệnh sán lãi, giun kim, các bệnh nấm ngoài da...
Một nhà nghiên cứu đã hào hứng tuyên bố rằng “ tỏi có tác dụng rộng rãi hơn bất cứ loại kháng sinh nào hiện có. Nó có thể diệt vi trùng, nấm độc,siêu vi trùng, ký sinh trùng lại rẻ tiền hơn, an toàn hơn vì không có tác dụng phụ và không gây ra quen thuốc ở vi trùng”.
Giáo sư Arthur Vitaaen (1895-1973), người đoạt giải Nobel năm 1945, cũng đồng ý như vậy.
Do đó ta không lấy làm lạ là trong Thế chiến thứ nhất, các bác sĩ Anh quốc đã dùng tỏi để chữa vết thương làm độc.
Thực tế ra, tỏi được dùng với những nhiễm độc nhẹ, không nguy hiểm tới tính mạng. Còn các trường hợp nhiễm trùng cấp tính và trầm trọng thì không thể dựa vào các loại “kháng sinh thực vật” này.
7 - Tỏi với tuổi thọ
Theo dân chúng vùng Ukraine, ngâm nửa kí tỏi cắt hay giã nhỏ bỏ vào nước vắt của 25 quả chanh, để qua đêm rồi mỗi ngày uống một thìa pha với nước lạnh, trong hai tuần sẽ thấy trẻ khỏe ra. Các nhà văn Ukraine nói thêm rằng uống thường xuyên rượu tỏi thì con người sẽ cảm thấy trẻ trung.
Nhiều vị cao niên Việt Nam cũng thường uống rượu ngâm với tỏi, tin tưởng là sẽ được cải lão hoàn đồng, kéo dài tuổi thọ. Họ nghiền khoảng 200 gr tỏi tươi, ngâm trong 300gr rượu mạnh, để vào nơi mát trong hai tuần rồi uống trước mỗi bữa ăn chừng năm tới mười giọt.
Ở vùng Balkan, số người thọ trên 100 tuổi rất cao và được giải thích là họ nhai nhiều nhánh tỏi mỗi ngày.
Ngoài ra, Tỏi còn một số công dụng khác như:
Nhà thiên nhiên học La Mã Pliny viết rằng tỏi mà đưa cay với rượu vang thì con người làm tình rất điệu nghệ. Do đó dân chúng La Mã ăn nhiều tỏi và coi tỏi là thuốc kích thích tình dục.
Nghiên cứu mới đây ở loài chuột cho thấy tỏi có thể có tác dụng tốt trên các chức năng của não bộ, tăng trí nhớ và có thể nâng cao tuổi thọ.
Theo bác sĩ Paavo Airola, một nhà chuyên môn dinh dưỡng tại Phoenix, Arizona, tỏi với các hóa chất sulfur của nó, có thể chữa được bệnh mụn trứng cá, bệnh khí thũng phổi làm khó thở, khó tiêu bao tử, táo bón, cảm lạnh.
Các nghiên cứu của bác sĩ D Sooranna và I Das bên Luân đôn cho hay dùng tỏi khi mang thai có thể làm giảm nguy cơ tiền sản giật , (cao huyết áp và đạm chất trong nước tiểu ) và làm trẻ chậm lớn được mau lên cân hơn.
Và cuối cùng là một nghiên cứu ở Monnel Chemical Senses Center, Philadelphia, cho biết là khi mẹ ăn tỏi, con sẽ bú sữa mẹ lâu hơn và nhiều hơn vì tỏi làm tăng khẩu vị của em bé.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018
Một áng văn của nước Việt
Có một câu chuyện thể
hiện niềm kiêu hãnh của người Việt đã được Giáo sư Trần Văn Khê kể lại
nhiều lần cho các học trò của mình, và cũng được ông ghi lại trong cuốn hồi ký,
kể về cuộc tranh luận bên lề buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản
tại Paris vào năm 1964…
GS Trần Văn Khê
Tham dự buổi sinh hoạt
này hầu hết là người Nhật và Pháp, duy chỉ có Giáo sư Trần văn Khê là
người Việt. Diễn giả là một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp. Ông khởi đầu buổi
nói chuyện như thế này:
“Thưa quý vị, tôi là
Thủy sư đề đốc, đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào
đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã
thấy cả một rừng văn học. Và trong khu rừng ấy, trong đó Tanka là một đóa hoa
tuyệt đẹp. Trong thơ Tanka, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả
được bao nhiêu tình cảm. Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc, đậm
đà. Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được.”
Lời phát biểu đã chạm
đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê. Chính vì thế, khi buổi nói
chuyện bước vào phần giao lưu, Giáo sư đã đứng dậy xin phép phát biểu:
“Tôi không phải là
người nghiên cứu văn học, tôi là Giáo sư nghiên cứu âm nhạc, là thành viên hội
đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO.. Trong lời mở đầu phần nói chuyện, ông Thủy sư
Đề đốc nói rằng đã ở Việt Nam hai mươi năm mà không thấy áng văn nào đáng
kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Thưa ngài, chẳng
biết khi ngài qua nước Việt, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của
Việt Nam?
Có lẽ ngài chỉ chơi
với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách… Phải chi ngài
chơi với Giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm
trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ
của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì ngài sẽ có
dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập…
Ông còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, ông còn xuất bản sách ghi lại các
sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ngài làm bạn với những người như thế,
ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn
kiệt tác.
Giáo sư Emile
Gaspardone
Tôi không biết ngài
đối xử với người Việt Nam thế nào, nhưng người nước tôi thường rất hiếu khách,
sẵn sàng nói cái hay trong văn hóa của mình cho người khác nghe. Nhưng người
Việt chúng tôi cũng ‘chọn mặt gửi vàng’, với những người phách lối có khi chúng
tôi không tiếp chuyện. Việc ngài không biết về áng văn nào của Việt Nam
cho thấy ngài giao du với những người Pháp như thế nào, ngài đối xử với người
Việt ra sao. Tôi rất tiếc vì điều đó. Vậy mà ông còn dùng đại ngôn
trong lời mở đầu”.
Rồi để so sánh với Tanka,
Giáo sư đưa ra những câu thơ như:
“Núi cao chi lắm núi ơi;
Núi che mặt trời,
không thấy người yêu”
hay
“Đêm qua mận mới hỏi đào;
Vườn hồng đã có ai vào hay
chưa”
để đối chiếu: tức là cũng dùng núi non, hoa lá để nói thay tâm sự của
mình.
Còn về số lượng âm
tiết, Giáo sư kể lại câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang
nhà Nguyên, gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên
muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ
có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền:
|
Thanh thiên nhất đoá vân
|
青天一朵云,
|
|
Hồng lô nhất điểm tuyết
|
烘炉一点雪。
|
|
Thượng uyển nhất chi hoa
|
上苑一枝花,
|
|
Dao trì nhất phiến nguyệt
|
瑶池一片月。
|
|
Y! Vân tán, tuyết tiêu
|
唏!云散雪消
|
|
Hoa tàn, nguyệt khuyết
|
花残月缺。
|
Dịch nghĩa là:
Một đám mây trên trời xanh
Một bông tuyết trong lò lửa đỏ
Một nhành hoa trong vườn thượng uyển
Một vầng trăng Dao Trì
Ôi ! Mây tán, tuyết
tan, hoa tàn, trăng khuyết !
Chú thích: Trong thời gian sứ bộ lưu ở Yên Kinh,
có một công chúa nhà Nguyên chết, sứ thần Việt Mạc Đĩnh Chi được cử đọc
văn tế. Để thử tài sứ giả nước Việt, quan Bộ Lễ trao cho ông trang giấy chỉ có
4 chữ Nhất. Thật là một tình thế hết sức hiểm nghèo, nhưng rồi ông rất
bình tĩnh ứng khẩu đọc bài tế công chúa
Tất cả chỉ 29 âm chứ không
phải 31 âm để nói việc người vừa mất đẹp và cao quý như thế nào.
Khi Giáo sư Trần Văn
Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt
liệt. Ông thủy sư đề đốc đỏ mặt: “Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc
nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình đã sai khi vô tình làm tổn thương
giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin thành thật xin lỗi ông và xin
lỗi cả dân tộc Việt Nam.”
Kết thúc buổi nói
chuyện, ông Thủy sư lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm
để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói
người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói: “Vậy
là ông chưa tha thứ cho tôi”. Giáo sư đáp lời: “Có một câu mà tôi không thể
dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là:
I
can forgive but I cannot forget, is only another way of saying, I cannot
forgive
Tạm dịch: Tôi tha thứ,
nhưng tôi chưa thể quên. Nói ca;ch khác là tôi không tha thứ.
Câu chuyện nhiều cảm
hứng này cho chúng ta thấy một điều rằng, chỉ những người am hiểu văn hóa
truyền thống mới có thể cứu vãn danh dự cho đất nước, chỉ những người không
lãng quên những giá trị cổ xưa mới có thể gìn giữ tôn nghiêm của một dân tộc.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




















