Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2019

Đúng không ai nhớ, sai chẳng ai quên..

Trong cuộc sống này có một số người, bạn giúp họ cả trăm lần họ không có được một lời cảm ơn. Nhưng chỉ một lần không giúp, họ quay ra hận bạn. Bao nhiêu cố gắng nỗ lực bỏ ra vì người khác, thứ bạn nhận lại được không phải là sự chân thành mà chỉ là nỗi cay đắng.











Vị Sư già viết lên giấy 4 phép tính:

2+2=44+4=88+8=169+9=19

Ngay lập tức, các đệ tử nhao nhao lên:

"Thầy ơi, thầy tính sai một phép tính rồi."

Vị Sư già ngẩng đầu lên, chậm rãi nói: "Đúng thế, mọi người đều nhìn thấy rất rõ, phép tính này ta đã tính sai rồi. Nhưng 3 phép tính trước tính đúng, tại sao không có một ai khen ta mà chỉ nhìn thấy và lập tức chỉ ra phép tính sai của ta?"

Đạo lý 100 - 1 = 0

Làm người cũng vậy, khi bạn đối xử tử tế với người khác 10 lần, họ có thể cũng chẳng nhớ, nhưng chỉ 1 lần bạn làm họ phật ý, họ  sẽ nhớ rất lâu và có thể phủ nhận hoàn toàn những điều tốt đẹp  mà bạn dành cho họ.
Đó chính là đạo lý 100 – 1 = 0. 

Người xưa có câu: Cho một bát gạo thành ân nhân, cho một bao gạo thành kẻ thù.

Có những người đã quen với việc được cho mà dễ dàng quên ơn huệ. 

Không phải ai ai cũng hiểu được hai chữ "độ lượng"!

Cho dù bạn sở hữu cả chục cái tốt cái hay nhưng chỉ cần có một cái không tốt, nó sẽ là cái cớ để xóa sạch sẽ mọi cố gắng nỗ lực của bạn. Cho dù bạn dốc hết tâm huyết ra vì người khác, nhưng chỉ một việc không đúng, bạn sẽ trở thành tội đồ trong mắt họ.

Trong cuộc sống này có một số người, bạn giúp họ cả trăm lần họ không có được một lời cảm ơn. Nhưng chỉ một lần không giúp, họ quay ra hận bạn. Bao nhiêu cố gắng nỗ lực bỏ ra vì người khác, thứ bạn nhận lại được không phải là sự chân thành mà chỉ là nỗi cay đắng. 

Nhưng thôi, thói đời là thế, những ai chấp nhận được thói đời người đó sẽ giàu có thêm lòng độ lượng và thanh thản. Chê bai, oán trách đời thì mọi thứ vẫn không khác đi mà không gian tâm thức mình ngày càng thu hẹp lại?

Nửa đời người khi tỏ ngộ
Phân trần sai, đúng mà chi!
Thế gian mọi điều tương đối
Tình ta độ lượng nhu mì ..

Như Nhiên Thích Tánh Tuệ


Thứ Tư, 19 tháng 6, 2019

Thưởng thức cổ nhạc miền Nam và Vọng Cổ


NKLT: Tác giả của bài viết này đã chia cổ nhạc miền Nam ra làm “3 điệu” gồm Nam, Bắc và Oán, tuy nhiên, nhạc giới miền Nam đã phân loại cổ nhạc thành 4 thể điệu gồm Bắc, Hạ, Nam, Oán và điệu Bắc có 6 bài Bắc nhỏ và 7 bài Bắc lớn (hoặc 7 bài Bắc Lễ) và sau này 7 bài Bắc lớn được gọi là 7 bài Cò hoặc 7 bài nhạc Lễ thuộc thể điệu Hạ.

Cũng theo tác giả, 6 bài Bắc gồm: Bình Bán, Phú Lục, Tây Thi, Cổ Bản, Lưu Thủy và Hành Vân, tuy nhiên, điều này không được chính xác vì Bình Bán, Lưu Thủy và Hành Vân là những bản nhỏ không nằm trong 6 bản Bắc của hệ thống 20 bản Tổ. Sáu bản Bắc được giới cổ nhạc miền Nam dùng gồm: Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Bình Bán Chấn, Cổ Bản, Xuân Tình, Tây Thi.

Bảy bài nhạc Lễ còn gọi là 7 bài bắc Lễ hoặc 7 bài Bắc Lớn gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Long Ngâm, Long Đăng, Vạn Giá, Tiểu Khúc.
*
*   *

Hồi xưa trong Nam, lúc “Ba ngày Tết”, thì tối lại thường thường dân ở làng hay đi xem một “chầu” Hát Bội, còn dân ở tỉnh thì hay đi xem một “xuất” Cải Lương.

Để hiểu và thưởng thức trọn vẹn tuồng Hát Bội thì khán thính giả phải biết cốt chuyện của tuồng hát (thường thường lấy trong truyện Tàu như: tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên”, tuồng “Ngũ Hổ Bình Tây”, tuồng “San Hậu” và phải biết sơ sơ những nguyên tắc căn bản của việc đánh trống chầu. Giáo sư Nguyễn Ngọc An trong bài “Nghệ Thuật cầm chầu” đã trình bày hết sức rõ rệt nghệ thuật ấy.

Để hiểu và thưởng thức trọn vẹn xuất cải lương thì khán thính giả cũng phải biết cốt chuyện của tuồng hát (thường thường lấy trong truyện Tàu hay trong tiểu thuyết VN như tuồng “Phụng Nghi Đình” với cô Bảy Phùng Há, tuồng “Xử Án Bàng Quý Phi” với cô Năm Phỉ, tuồng “Lan và Điệp” với cô Thanh Nga), và phải biết sơ sơ những nguyên tắc căn bản của cổ nhạc VN.

Theo gương của giáo sư Nguyễn Ngọc An, tôi xin cố gắng trình bày sau đây vài nguyên tắc căn bản ấy. Vì thế hệ trẻ VN sau này đã quen với nhạc Tây Phương, nên tôi xin trình bày những nguyên tắc căn bản ấy dưới hình thức so sánh, bằng những khác biệt, giữa nhạc Tây phương và nhạc Cổ điển miền Nam để cho được dễ hiểu hơn.

I. Khác biệt về các Note đàn

Nhạc Tây phương có bảy (7) nốt đàn (là Do, Ré, Mi, Fa, Sol, La, Si
hoặc A, B, C, D, E, F, G) và các dièse (sharp) hoặc bémol (flat) của mỗi nốt ấy. Còn cổ nhạc miền Nam thì cũng có bảy (7) tên nốt đàn (là: Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, Liếu, Ú) nhưng kỳ thực thì chỉ có năm (5) tiếng nốt đàn (là Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, còn Liêu, Ú, là “nấc trên” của Hò và Xự). Nhưng mỗi nốt đàn VN không có dièse hay bémol của nó mà có vô số tiếng “ngân” éo on của nó, vì nốt đàn VN đánh lên thường thường là có “ngân” (nhất là khi nốt đàn ở vào cuối nhịp hay cuối câu).

“Ngân” không phải là trille vì trille là đánh thật nhiều lần rất mau và đàn và nốt liền ở trên. “Ngân” cũng không hẳn là vibrato vì trong vibrato tuy có sự “rung rung” của ngón tay trái trên nốt đàn nhưng sự căng thẳng (tension) của sợi dây đàn không có thay đổi bao nhiêu; còn “ngân” thì đánh có một lần vào nốt nào đó trong lúc ngón tay trái vẫn tiếp tục ấn mạnh nhẹ liên hồi vào dây đàn để cho sự căng thẳng của dây thay đổi hầu phát ra những tiếng “éo on” của nốt đàn ấy; thí dụ như đánh nốt Xang (nhất là ở vào cuối nhịp hay cuối câu) thì không phải để phát ra một tiếng “Xang” rồi thôi, mà phải phát ra một tiếng Xang éo on như “Xàng Xaãang”. (Có lẽ chữ Pháp hay chữ Anh có nghĩa gần nhất với chữ “Ngân” là chữ “Moduler” (Modulate).

Kết quả: 


1. Không thể nào dùng nhạc khí Tây phương nào mà không “ngân”
được để diễn tả cổ nhạc miền Nam. Thí dụ không thể dùng dương cầm (piano) được, vì không thể “ngân” được, dù cho có giữ ngón tay trên phiếm hay có dùng bàn đạp (pédale) cũng chỉ kéo dài tiếng đàn chớ không phát ra được những tiếng “éo on” của ngân. Còn nếu dùng những nhạc khí có dây của nhạc Tây phương như đàn Madoline hay đàn guitar thì trên cán đàn phải “khoét lõm” ở chỗ bấm nốt để có thể ấn “mạnh nhẹ, mạnh nhẹ” xuống dây đàn hầu thay đổi sự căng thẳng của nó để mà “ngân”. Chỉ có hawailian-guitar là thích hợp để diễn tả cổ nhạc miền Nam nhờ sự có thể nhích tới nhích lui cục sắt nằm trong tay trái để phát ra tiếng “ngân”.

2. Thường thường đàn một bản nhạc Tây phương thì các nốt đàn được đánh lên phải nghe cho thật “clean” nghĩa là không có phụ âm đi kèm; còn đàn một bản cổ nhạc miền Nam thì các nốt được đánh lên, nghe có phụ âm đi kèm vì “ngân”, (thí dụ: Công-ôố-ống, Xàng-xaã-ang).

II. Khác biệt về quan niệm (conception) một bản đàn

Trong nhạc Tây phương một bản nhạc là một tác phẩm do một nhạc sĩ sáng tác, viết ra để cho mình chơi, người khác chơi, một dàn nhạc chơi và sẽ lưu lại cho hậu thế chơi; và mỗi khi chơi thì đánh lên không sai một ly những nốt và những ngừng im (pause, silence) đã viết ra trong bản nhạc. Cho nên một nhạc sĩ Tây phương, lúc đàn thì, về mặt kỹ thuật hành sử (exécuter) một nhạc phẩm (có trước mặt hay thuộc lòng) của tác giả; còn về mặt tình cảm thì “phiên dịch” (interpréter) tình cảm của tác giả ấy, nghĩa là nghĩ rằng, đoán rằng, lúc sáng tác tác giả ấy đang nghĩ đến gì, thì mình cố gắng diễn tả tư tưởng, cảm giác ấy qua bản nhạc của ông ấy mà mình đang đàn.

Còn theo cổ nhạc miền Nam, vì không có lối viết nhạc (écriture musicale) nên nhạc sĩ không thể có bản nhạc trước mắt, và vì quan niệm rằng một bản nhạc là một cái khung, một cái mẫu theo điệu nào đó để cho nhạc sĩ theo đó mà sáng tác, liền ngay tại chỗ trong lúc đàn một bản nhạc của mình để diễn tả tư tưởng và cảm giác hiện tại của mình: cho nên có thể nói rằng một nhạc sĩ cổ nhạc miền Nam là một “Instant Composer”) ngay lúc đàn, sáng tác một bản nhạc theo điệu nào đó, trong một cái khung hay theo một cái mẫu nào đó (thí dụ: Điệu Bắc, theo mẫu bản Lưu thủy hay bản Tây thi, hoặc Điệu Nam theo mẫu bản Nam xuân hay bản Nam ai, hoặc Điệu Oán theo mẫu bản Tứ đại hay bản Văn thiên Tường).

Kết quả:


Theo nhạc Tây phương thì một bản nhạc của Mozart, của Beethoven của Chopin hay của một nhạc sĩ trứ danh nào khác sáng tác, thì một nhạc sĩ ở thế kỷ 18, 19, 20, 21, 22, hay sau nữa, ở Pháp, ở Đức, ở Mỹ, ở Tàu hay ở Nhựt, cũng đã, đang và sẽ, đánh ra bấy nhiêu nốt, ngừng lại bấy nhiêu lâu, không sai một ly, chỉ có khác nhau ở lối diễn tả hay “phiên dịch” (interpréter) cảm giác của tác giả.

Còn theo cổ nhạc miền Nam thì một bản Tứ đại, Nam xuân hay vọng cổ của ông Chín Kỳ đàn, nếu được “thu băng” rồi đem ra phân tách kỹ từng nốt đàn và từng lúc im, thì thấy nó sẽ khác với bản Tứ đại, Nam xuân hay vọng cổ của một nhạc sĩ khác đàn (cùng một thứ đàn). Và ngay cùng một người đàn, nếu thu băng rồi phân tích kỹ lại từng nốt đàn thì bản Tứ đại, Nam xuân hay vọng cổ của ông Chín Kỳ đàn ngày hôm nay, có khác với bản Tứ đại, Nam xuân hay vọng cổ mà cũng chính ông Chín Kỳ này đàn ngày hôm trước, hoặc tuần lễ trước, hay ngày hôm sau, hoặc tuần lễ sau, bởi vì theo quan niệm của cổ nhạc miền Nam thì người nhạc sĩ khi đàn là một “Instant Composer” sáng tác ngay tại chỗ một bản đàn theo điệu nào đó, trong khung hay theo mẫu nào đó, để diễn tả tâm hồn hiện tại của mình, tuỳ ý, tuỳ hứng, tuỳ lúc mà tư tưởng và cảm giác của mình thì thay đổi hằng ngày nên bản nhạc đánh ra nghe có khác, mặc dù chung chung biết nó theo điệu gì, mẫu nào. Có lẽ nhạc cổ điển Tàu cũng theo cùng một nguyên tắc cho nên mới có cái tích “Bá Nha, Tử Kỳ”, người này đàn, người kia nghe được, thì “đọc trong ruột” của người ấy mà biết được đang nghĩ đến cái gì.

III. Khác biệt về các điệu đàn (mode)

Nhạc Tây phương có nhiều “Điệu” (mode) nhưng thông thường nhứt là hai điệu Mode Majeur và Mode Mineur; mỗi điệu có nhiều (12) gammes, mỗi gamme được quy định bằng những âm luật chặt chẽ, rõ ràng và khoa học; cũng như việc chuyển từ điệu này sang điệu kia cũng được quy định bằng những âm luật chặt chẽ, rõ ràng, và khoa học mà không phải sửa đổi sự căng thẳng (tension) của dây đàn.

Còn cổ nhạc miền Nam thì có “ba (3) điệu”, mỗi điệu có một tính chất riêng biệt và một số bài căn bản:



1. “Điệu Bắc” thì nghe vui tai, có vẻ liến xáo, đàn nhanh, nhịp lẹ, ngân ít.

2. “Điệu Nam” thì đàn thong thả hơn, ngân vừa, nhịp khi chặt khi thưa, và phải gây ra một cảm tưởng trầm ngâm, bình thản, nghiêm trang.

3. “Điệu oán” thì đàn thong thả hơn nữa, ngân nhiều, nhịp thưa, và phải gây ra một cảm tưởng buồn rầu, oán hận, thở than.

Thường thường khi chuyển từ “Điệu Bắc” qua “Điệu Nam” hay “Điệu Oán” thì nhạc sĩ phải vặn cái trục của cây đàn (kìm, cò hay sến) hoặc “nới con nhạn” của đàn tranh để sửa sự căng thẳng (tension) của dây đàn (cho tiếng “xuống” lối demi-ton).


Hồi xưa khi học đàn cổ nhạc miền Nam thì “Thầy đàn” thông thường bắt đầu dạy “Sáu (6) Bài Bắc” là những bài: Bình bán, Phú lục, Tây thi, Cổ bản, Lưu thủy, Hành vân. Mục đích là để cho “quen ngón”, đánh nốt nào bấm cho đúng chỗ, đàn mau, không ngân nhiều, nhịp cho đúng nhịp. (còn có một số “Bài điệu Bắc” nữa, rất hay, là những bài: Kim tiền, Khổng Minh tọa lầu, Xàng xê, Tây thi quảng ...)

Học cho thật thuần Sáu Bài Bắc xong thì “Thầy” cho “qua Nam” hay là “qua Oán”. Nếu “qua Nam” thì học “ba (3) Bài Nam” là những bài: Đảo ngũ cung, Nam Xuân và Nam Ai (thường đàn Nam Xuân rồi qua Nam Ai). (Hình như có bài Nam Bình nữa mà ít ai biết và ít nói đến).


Nếu “qua Oán” thì họa “Ba (3) Bài Oán” là những bài: Tứ đại oán (khác với Tứ đại cảnh), Văn thiên tường, và Trường tương tư. Còn có một bài Oán cổ điển rất hay nữa là bài “Bình sa lạc nhạn” (nghe tiếng đàn, con chim nhạn đang bay phải rớt té xuống bãi cát).

Vọng cổ được sắp theo điệu oán Oán, nhưng không được kể như “classique”. Học đàn cổ nhạc vì không có lối viết nhạc, nên phải nhớ bằng tai nghe (lúc ấy lại chưa có máy thu băng) thuộc lòng, mà “thầy” dạy không có phương pháp lại mỗi lúc đánh cùng một bản nhạc thì có hơi khác nhau (vì lý do nói ở đoạn trên) nên phải nhiều cố gắng công phu lắm.

Tôi còn nhớ lúc nhỏ hay chế diễu việc học đàn bằng câu hát: “Liêu Tồn Liêu Xáng U, cú trên đầu ba bữa còn u” (vì ở VN trẻ con học cái gì cũng bị đòn).

IV. Khác biệt về lối kiến trúc các cơ cấu (structure) của bản nhạc 



Cũng như một bản nhạc Tây phương, một bản cổ nhạc miền Nam cũng được chia ra làm nhiều đoạn hay nhiều lớp (Tứ đại có lớp Xự, và lớp Xang) mỗi lớp có một số câu, mỗi câu có một số nhịp (mesure).

Và từ đây là bắt đầu có một sự khác biệt căn bản giữa hai âm nhạc:

Trong một bản nhạc Tây phương mỗi nhịp (mesure) được chia ra làm nhiều “Thì” (temps) như 2/4, 4/4 hay C, hoặc 3/8, 6/8, 9/8 ... để rồi, tuỳ theo cái “thì” đó mà mỗi nhịp bắt buộc phải có và chỉ có bao nhiêu nốt loại nào (tròn, trắng, đen, một nóc, hai nóc ...) cùng với bao nhiêu ngừng im (pause, silence).

Còn trong cổ nhạc miền Nam thì có nhịp (mesure) chớ không có “thì” (temps), cho nên nhạc sĩ đã là “Instant Composer” thì tuỳ ý, tuỳ hứng, tùy “yên sĩ phi lý thuần” (inspiration) mà đánh bao nhiêu nốt trong một nhịp, nghỉ bao nhiêu lần bao nhiêu lâu cũng được, miễn là, “canh nhịp” cho đúng, để mà ở những chỗ có nhịp chính của bản đàn thì đánh cho đúng cái nốt bắt buộc ở đó, (gọi là “xuống nhịp” cho đúng); bởi lẽ mỗi bản nhạc là một cái khung cái mẫu theo một số điệu nào đó thì luôn luôn có một số nhịp chính, ở đó bắt buộc phải đánh nốt nào đó.

Thí dụ: trong bản nhạc vọng cổ, ở câu 1, thì nhịp đầu là “Hò”, nhịp thứ tư là “Hò”, nhịp thứ 8 là “Xang”, nhịp thứ 12 là “Cống”, thì nhạc sĩ chỉ cần canh nhịp cho đúng để đến nhịp 1 thì đánh Hò, gọi là “xuống Hò”, nhịp 4 thì “xuống Hò”, nhịp 8 thì “xuống Xang”, và nhịp 12 thì “xuống Cống”, còn ở những chỗ khác thì tha hồ, tuỳ ý, tuỳ hứng miễn là canh nhịp sao cho đúng để “xuống nhịp” cho đúng.

V. Khác biệt trong lối “hành sử” (exécuter) bản nhạc

Một nhạc sĩ trình diễn nhạc Tây phương thì bắt đầu là vào ngay bản nhạc (có trước mắt hay thuộc lòng) mà mình phải chơi.

Còn một nhạc sĩ trình diễn cổ nhạc miền Nam thì bắt đầu bằng một hồi “Rao”. Rao nghĩa là đàn theo một điệu nào đó (điệu Bắc, điệu Nam, hay điệu Oán) mà không phải theo khung mẫu của bản nào hết, nên hoàn toàn tuỳ ý, tuỳ hứng. Tức nhiên là lối “Rao Bắc” (đàn nhanh, vui nhộn, liến xắc) có lối “Rao Nam” (đàn ung dung, trầm ngâm, bình thản) và lối “Rao Oán” (đàn chậm, ngân nhiều, cho ra những tiếng buồn rầu, oán hận). “Rao lên” thì người nghe nhạc biết rằng nhạc sĩ sẽ đàn điệu gì (Bắc, Nam hay Oán).

Một tác dụng khác của “Rao”, khi có nhiều người đàn, là để “so dây”. Đàn tây phương lấy nốt La (A) làm căn bản, có định nghĩa khoa học rõ ràng là tiếng phát ra của một sợi dây căng thẳng được rung với một tần số (fréquence) 438 rung động trong một giây đồng hồ (438 vibrations par seconde) (hồi trước là 435); có dụng cụ (diapason) để so dây và lên giây các thứ đàn cho đúng.

Còn đàn cổ nhạc miền Nam thì lấy nốt Hò làm căn bản, nhưng không có định nghĩa khoa học rõ rệt nốt Hò là gì, có bao nhiêu rung động trong một giây đồng hồ, và không có dụng cụ để đo, và so dây các thứ đàn, mà chỉ lấy tai nghẹ Mà tai người này với người kia khác nhau nên lúc rao là thời gian để các nhạc sĩ sửa dây đàn của mình cho “ăn” với nhau, hoặc “ăn” với giọng của ca sĩ, nếu có ca.

Tác dụng thứ ba của Rao là để biểu diễn. Vì đàn một điệu mà không bị ràng buộc bởi cái khung mẫu của bản nào hết, thì nhạc sĩ có thể tha hồ cho “ra những ngón đàn” đặc biệt của mình để tỏ ra là mình có khả năng đàn mau (“sầm sập như trời đổ mưa”), (“đàn khoan thai như gió thoảng ngoài”), đàn riếu ron (“như tiếng hạc bay qua”) hoặc đàn lâm ly (“như nước suối mới sa nửa vời”). Người sành nhạc, chỉ nghe rao thôi, cũng có thể đánh giá và sắp hạng nhạc sĩ (ưu hay bình, thứ) được. Cho nên nhạc sĩ lúc rao thích “trỗ tài” và “biểu diễn”.

Rao xong thì vào bài, tức là bắt đầu bản nhạc. Thường thường để đánh dấu bắt đầu vào bản nhạc, nhất là khi có nhiều người cùng hoà tấu, thì người nhạc sĩ “cầm canh” hay là “giữ nhịp”, gõ vào nhịp cụ nghe một tiếng “cóc”, tức là bắt đầu, thì mọi người đàn. Trong suốt thời gian đàn, thỉnh thoảng nghe nhịp “cóc”. “cóc”. “cóc”, mau hay khoan tuỳ theo điệu (điệu Bắc thì mau, điệu Nam thì khoan thai hơn, điệu Oán thì chậm hơn nữa). Không phải nhịp nào cũng gõ, mà thường thường là nhịp để chấm câu (như nhịp thứ 16 là để chấm câu trong bản vọng cổ) hoặc để đánh dấu một vài nhịp chính trong câu (như nhịp thứ 12 trong câu vọng cổ).

Có khi, nhất là trong các bản đàn điệu Nam hay điệu Oán xưa; thì có lối “nhịp song loan” như để xuống dòng trong một bản văn viết; thì người ta nghe như sau: tiếng đang đàn, nghe nhịp một cái “cóc” thì im, đếm thầm một, hai, ba, nghe nhịp một cái “cóc” nữa, thì đàn lại, hoặc như sau: tiếng đang đàn, thì im và nghe gõ nhịp “cóc” - “cóc”, “cóc” - “cóc” thì đàn lại.

VI. Vọng cổ

Đàn và ca vọng cổ là điệu phổ thông nhất và được thưởng thức nhất ở miền Nam sau này cho đến nổi mà đối với một số người Bắc mới vào Nam và có một số người Nam trong thế hệ trẻ, cổ nhạc miền Nam là vọng cổ và chỉ có vọng cổ. Kỳ thực thì cổ nhạc miền Nam có nhiều bài cùng điệu vọng cổ (điệu oán) mà hay hơn vọng cổ rất nhiều như các bài Tứ đại, Văn thiên Tường, hay là Trường tương tư, nhưng các bài ấy vì khó đàn khó ca nên sau này bị lãng quên mà chỉ còn có vọng cổ được tồn tại phổ thông vì dễ đàn và dễ ca.

1. Lịch sử: 


Một số người Nam cho rằng vọng cổ phát xuất từ người Chàm ở miền Nam Trung phần (nhớ tiếc thuở xa xưa). Nhưng thuyết ấy không có chứng minh. Dù sao, đến cuối thập niên 1920, hồi thời “máy hát quay tay hiệu con chó có cái loa” (La voix de son maitre), thời dĩa hát hiệu “con gà” của hãng “Pathé”, hồi đời “Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho”, đời mà khi diễn xong một tuồng hát, thì toàn ban ra trước sân khấu hát bài “Ma-Đờ-Long” (Madelon) để từ giã, thì trong Nam đã có bản nhạc “vọng cổ hoài lang”, 20 câu, mỗi câu có 4 nhịp; đến đầu thập niên 30, lối năm 1935, 36, thì có nhóm nhạc sĩ ở Bạc Liêu đàn bản vọng cổ này mà kéo dài ra mỗi câu có lẽ 16 nhịp, nên lúc ấy trong Nam gọi là “vọng cổ Bạc Liêu” (hay là vọng cổ nhịp 16”).

Kể từ đó và suốt hết thập niên 40 là “thời kỳ vàng son” của vọng cổ với trọn 20 câu, mỗi câu có 16 nhịp, với các nghệ sĩ lừng danh trong cả Nam kỳ như các nhạc sĩ Sáu Tửng (đàn kìm), Chín Kỳ (đàn tranh), Hai Phát (đàn cò), các nam ca sĩ Năm Châu và Bảy Nhiêu, các nữ ca sĩ Cô Hai Đá, cô Ba Bến Tre, cô Tư Sạng, và nhất là cô Năm Phỉ (trong tuồng cải lương “Xử Án Bàng Quý Phi”).

Các nhạc sĩ và ca sĩ trên còn đàn và ca được những bài Oán khác như Tứ Đại, Văn Thiên Tường, và Trường Tương Tư. 



Đến những thập niên 1950, 1960, tân nhạc VN theo lối nhạc Tây phương tràn ngập vào miền Nam và cổ nhạc miền Nam, nhất là những bản nhạc khó đàn và khó ca, bị lu mờ dần rồi bị lãng quên hẳn, chỉ còn có vọng cổ, rút ngắn lại còn có sáu (6) câu đầu, với nam ca sĩ “ăn khách” nhất là ông Út Trà Ôn, và nữ ca sĩ “ăn khách” nhất là cô Thanh Nga.

2. Nghe đàn và ca sáu (6) câu vọng cổ: 

Khởi đầu cuộc trình diễn thì các nhạc sĩ “Rao” (rao điệu Oán: xem ở đoạn trước). Rao một lúc thì ca sĩ bắt đầu “nói lối” trong lúc nhạc sĩ vẫn rao; khi nói lối gần xong thì nhạc sĩ ngừng rao, chờ cho ca sĩ xuống giọng để vô nhịp Hò đầu (của câu 1) thì nhạc sĩ “bắt” nốt Hò đó để vào bản nhạc và tiếp tục đàn luôn. (Thường thường nếu ca sĩ xuống giọng để “vào nhịp Hò” ấy mà nghe êm tai, mùi mẫn lại ăn khớp với tiếng đàn “bắt” nốt Hò đó thì khán giả vỗ tay rầm rầm).

Ca đến hết câu 1 thì “xuống nhịp Cống”, cho nên bài ca vọng cổ nào chữ cuối cùng của câu 1 cũng là một chữ có dấu sắc, hoặc có khi dấu hỏi hay dấu ngã, mới “ăn” với nốt “Côôống”)

Cuối câu 2 thì “xuống nhịp Xang”, cho nên bài ca vọng cổ nào chữ cuối cùng của câu 2 cũng là một chữ không dấu mới “ăn” với nốt Xàãang. (miễn cưỡng lắm mới dùng chữ có dấu huyền thì phải đọc lờ đờ như là không dấu).

Cuối câu 3 và cuối câu 4 đều “xuống nhịp Hò” thì bài ca thường thường cuối câu 3 và cuối câu 4 là một chữ có dấu huyền mới “ăn” với nốt Hò (miễn cưỡng lắm mới dùng một chữ không dấu).

Cuối câu 5 thì “xuống nhịp Xề” nên trong bài ca chữ cuối của câu 5 nhất định phải là một chữ có dấu huyền, mà đọc phải gằng giọng và kéo dài để cho “ăn” với nốt “Xềêê”.

Cuối câu 6 thì xuống nhịp Hò (như 3 và 4) mà phải đọc nhẹ để chấm dứt bài ca cho êm tai.


Hồi xưa nếu còn tiếp tục ca nữa thì đặc biệt đến câu 9, xuống nhịp “Xự”, thì trong bài ca chữ cuối cùng của câu 9 phải là một chữ có dấu nặng mới “ăn” với nốt “Xưựư”.

Trong suốt thời gian đàn và ca thì có một nhạc sĩ vừa đàn vừa “cầm canh” nghĩa là giữ nhịp cụ để “chấm nhịp” thì phải gõ nhịp nghe một tiếng “cóc” ở nhịp thứ 12 và nhịp thứ 16 của mỗi câu (trừ câu 1 thường thường chỉ có 12 nhịp, vì cho rằng “Rao” đã mất hết 4 nhịp, nên phải gõ nhịp ở nhịp 8 và 12).

Đến câu 6, ở nhịp thứ 12 thì phải gõ vào nhịp cụ hai lần (nghe cóc cóc) để báo hiệu rằng còn 4 nhịp nữa hết câu thì sẽ stop, ngưng đàn và cạ Thì nhạc sĩ bắt đầu đàn lơi lơi và chậm lại dần (theo nhạc Tây phương là Rall hay Rallentando) và ca cũng hơi chậm chậm lại cho đến cuối câu nghe nhịp một cái “cóc” nữa là ngưng đàn và cạ

Hồi xưa khi còn đàn và ca vọng cổ đủ cả 20 câu, thì đến đây không nghe nhịp hai cái cóc cóc thì nhạc sĩ và ca sĩ không đàn và ca chậm lại và hết câu 6 thì đi luôn qua câu 7.

Sau này còn có cái lối không đàn và ca luôn hết sáu câu, mà đến hết câu 3 thì:

- Hoặc ngừng rồi rao, nói lối, rồi xuống giọng để trở vô nhịp Hò đầu của câu 4, rồi đàn và ca luôn đến hết câu 6;

- Hoặc ngừng rồi rao, ca đệm vài câu của bản “Xuân Tình” hay bản “Chuồn Chuồn” rồi nói lối và xuống giọng để vô nhịp Hò đầu của câu 4 rồi đàn và ca luôn đến hết câu 6.



Trên đây tôi đã cố gắng trình bày vài nguyên tắc căn bản của cổ nhạc miền Nam, khác biệt với nhạc Tây phương để hiểu thêm phần nào và thưởng thức hơn nhạc cổ điển của chúng ta. Và tôi nghĩ rằng thế hệ già này của Việt kiều di cư, tuy không còn được thưởng thức tiếng đàn và lời ca của những bài cổ nhạc miền Nam độc đáo nữa như các bản Tây thi, Xàng xê, Nam xuân, Nam ai, hoặc Tứ đại, Văn thiên Tường, hay Trường Tương Tư, nhưng vẫn còn thấy xúc động khi được nghe đàn và ca sáu câu vọng cổ; chứ đến thế hệ tương lai sau này của Việt kiều di cư, thì chắc chắn không biết tới tên của những bản cổ nhạc ấy nữa, và không biết sẽ còn xúc động khi nghe đàn và ca sáu câu vọng cổ hay không, hay là sẽ dửng dừng dưng như nghe nhạc A-rab hay nhạc Ấn độ, một sự dửng dừng dưng tò mò của người ngoại quốc? 
BS Nguyễn Lưu Viên 
https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/n/nguyen-luu-vien/thuong-thuc-co-nhac-mien-nam-va-vong-co

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2019

Khi nào viết hoa



Cách viết hoa trong tiếng ViệtTăng cỡ chữ
(TG&DT) - Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.
Ðiều này cũng dễ hiểu vì tôi không tốt nghiệp hoặc chưa theo học một truờng hoặc một lớp dạy viết văn nào. Mặc dầu tôi đã trải qua sáu năm đại học nhưng ở đại học người ta không chấm điểm theo nghệ thuật viết văn mà chấm điểm theo nội dung bài vở. Cho nên khi khởi đầu viết tác phẩm “Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ” năm 1987 thì kỹ thuật viết văn của tôi như nguyên tắc viết hoa, cách chấm câu v.v.. hoàn toàn là của Lớp Ðệ Thất, Ðệ Lục với lời dạy của thầy, cô trong môn Việt Văn rất đơn sơ mà tôi chỉ còn nhớ lõm bõm.

Sau mười năm sống ở Mỹ tức khoảng năm 1995 và sau khi đã làm việc trong các trường học, theo dõi các bài giảng dạy viết văn của học sinh Mỹ, đọc các sách biên khảo về văn chương Hoa Kỳ tôi mới bắt đầu hiểu một số vấn đề như quy tắc viết hoa:

I. Quy tắc viết hoa trong văn chương Việt Nam

Trước khi nói về nguyên tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ chúng ta thử tìm hiểu xem nguyên tắc viết hoa của văn chương Việt Nam như thế nào. Theo tôi, khi tổ tiên chúng ta còn xử dụng tiếng Hán để làm văn tự thì chắc chắn không có quy tắc viết hoa. Khi chữ quốc ngữ được sáng tạo thì quy tắc viết hoa của chúng ta đã được mô phỏng hoặc bắt chước theo lối viết hoa của văn chương Pháp.

Thế nhưng quy tắc mà chúng ta ứng dụng hoặc bắt chước lại hỗn loạn và không thống nhất. Tôi không hiểu lỗi này do cha ông chúng ta không có một Hàn Lâm Viện để đặt một quy tắc thống nhất hoặc giả đây là lỗi của nhà văn, nhà xuất bản, của ban biên tập, của người sắp chữ (sau này là người đánh máy)? Riêng bản thân tôi, cho mãi tới năm 2000 – tức là sau 15 năm viết văn tôi mới chính thức tuân thủ lối viết hoa thống nhất theo văn chương Hoa Kỳ.

Ðiều này qúy vị độc giả có thể nhận thấy trong cuốn Ký Sự 15 Năm xuất bản năm 2000. Chứ còn 5 tác phẩm về trước, lối viết hoa của tôi hoàn toàn không thống nhất và hết sức lộn xộn. Sau đây là lối viết hoa trong văn chương Việt Nam theo thứ tự thời gian mà tôi đưa ra như những điển hình.

1)Viết hoa theo Việt Nam Tự Ðiển Khai Trí Tiến Ðức (1931):
Chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa và có gạch nối giữa các chữ.

Thí dụ:

Kinh-dương-vương
Hà-nội, Hà-nam, Hà-tĩnh, Giáo-sư, Giáo-sĩ, Hương-giang, Nga-la-tư, Thái-bình-dương
Thế nhưng: A-di-đà-Phật (chữ Phật cuối cùng lại viết hoa)

2) Lối viết hoa không thống nhất trong Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng:

-Tên người: Viết hoa cả họ, tên và chữ lót theo văn chương Mỹ nhưng vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ: Dương-Huy, Nguyễn-Thiết-Thanh, Nguyễn-Yên. Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết: Dương-thị-Mai (chữ thị không viết hoa)

-Tước hiệu, chức vụ: Thường không viết hoa và rất lộn xộn. Thí dụ:
cụ tú Ninh-Bắc, cụ tú Lãm, ông hàn Thanh  nhưng ở một chỗ khác lại viết Bà Cán, ông Tham Lộc

(Tham ở đây là một tước vị lại viết hoa)

-Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành  phố, trường học:

Khái Hưng chỉ viết hoa chữ đầu và vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:
Phúc-yên, Hà-nội, chùa Bách-môn

Thế nhưng ở những chỗ khác tất cả lại viết hoa. Thí dụ:

Thạch-Lỗi, Quan-Thánh, Phú-Thọ, Trù-Mật, Ninh-Bắc, Nam-Ðịnh, Gia-Lâm
Các con đường, con sông Khái Hưng viết hoa cũng không thống nhất: 

Thí dụ:

đường Quan-Thánh (Quan Thánh viết hoa)

Sông Tô-lịch (sông lại viết hoa, lịch lại không viết hoa)

Ngày, tháng Khái Hưng không viết hoa. Thí dụ: thứ bảy

3) Lối viết hoa của Nhất Linh trong Bướm Trắng:

-Về địa danh, Nhất Linh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:

Sầm-sơn, Hà-nội, Khâm-thiên, Chợ-lớn

Thế nhưng Sài Gòn có chỗ lại viết:

Sài gòn (không gạch nối)

Sài-gòn (có gạch nối)

Nhật bản (không gạch nối)

-Về tên người Nhất Linh viết hoa theo lối Mỹ. Thí dụ:

Bác-sĩ Trần Ðình Chuyên (không gạch nối, chữ lót viết hoa)

Nhưng ở một chỗ khác lại viết: Vũ-đình-Trương (có gạch nối và chữ lót lại không viết hoa)

4) Lối viết hoa không thống nhất của Thanh Tịnh trong Quê Mẹ:

-Các địa danh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối.

Thí dụ: phá Tam-giang, trường Mỹ-lý, Trung-kỳ, Hà-nội

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Trường Mỹ-lý (trường viết hoa mà không phải ở đầu câu)

làng Hòa ấp (lại không có gạch nối)

chùa Ðồng Tâm (chữ tâm lại viết hoa và không có gạch nối)

-Chức vụ chỉ viết hoa chữ đầu. Thí dụ: Hương-thơ

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

ông đốc (đốc không viết hoa)

ông Huyện Phong (hai chữ sau lại viết hoa)

Miếu Thần Ðá (tất cả lại viết hoa)

miễu Thánh (chữ miễu không viết hoa)

-Các tên người đều viết hoa theo lối Mỹ nhưng có gạch nối. Thí dụ:

Hoàng-Thiên-Y, Khổng-Tử, Lý-Tịnh, Na-Tra

Nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Lê Bá Xuân (không gạch nối)

5) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Văn Chí (1964):

Về tên các quốc gia: Viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Việt-Nam, Ðông-Nam-Á, Ðông-Dương, Hòa-Lan

Nhưng ở nhiều chỗ khác chỉ viết hoa chữ đầu:

Hoa-kỳ, Thái-lan, Ấn-độ, Trung-cộng, Tây-tạng,

Tên các nhân vật: Có lúc viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Khuyển-Dưỡng-Nghị, Tôn-Văn, Vương-Dương-Minh

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

Phan-đình-Phùng, Tôn-thất-Thuyết (chữ lót không viết hoa)

-Nhóm, hội đoàn, đoàn thể: Viết hoa không thống nhất, chỗ có gạch nối, chỗ không. Thí dụ:

Phong trào Cần-Vương

Phong trào Ðông Du (không gạch nối)

Phong trào Văn-Thân

phong trào cộng sản (cả bốn chữ lại không viết hoa)

-Các địa danh viết hoa cũng không thống nhất.

Thí dụ: Thượng-Hải, Hồng-Kông, Trà-Lùng, Hàng-Bông, Làng Cổ-Am, Yên-Báy, Hải-Phòng

Thế nhưng ở những chỗ khác lại chỉ viết hoa chữ đầu mà thôi. Thí dụ: Hà-nội, Quảng-châu, Quảng-nam, Lạng-sơn, Dương-tư, Nam-đànv.v…

6) Lối viết hoa của Duyên Anh trong Về Yêu Hoa Cúc (1970):

-Ðại lược về tên người, địa danh, tên trường học, tước hiệu Duyên Anh viết hoa theo lối Mỹ và bỏ gạch nối.

Thí dụ: Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Mai Thảo, Nguyên Sa, Ðinh Hùng, Hàn Mặc Tử

Ðại Học Văn Khoa, Ðà Lạt, Hà Nội, Mỹ Tho

Thế nhưng còn hai chữ Sài Gòn thì Duyên Anh có lúc viết Sài-gòn (có gạch nối, chữ gòn không viết hoa), rồi có lúc lại viết Sài gòn (không gạch nối)

-Tên các tờ báo, tạp chí lối viết hoa cũng không thống nhất. Thí dụ:

nhật báo Ðồng Nai, tuần báo Kịch Ảnh

tức là các chữ nhật báo, tuần báo không viết hoa)

thế nhưng lại viết: Ðông Dương Tạp Chí (tạp chí lại viết hoa)

-Các tác phẩm văn chương chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa (tức theo lối cũ). Thí dụ:

Ngày về, Lạnh lùng, Chân trời cũ

Nhưng ở chỗ khác lại viết Tiêu Sơn Tráng Sĩ (tất cả đều viết hoa)

7) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Khởi Phong trong Người Trăm Năm Cũ (1993):

Hoàng Khởi Phong là cựu chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp Chí Văn Học trong khoảng thời gian từ 1989-1990. Dĩ nhiên với chức năng này ông phải đọc lại và coi lại rất nhiều bài viết thế nhưng lối viết hoa của ông cũng không thống nhất – điển hình qua tác phẩm Người Trăm Năm Cũ.

-Các tước vị hoặc ngôi thứ trong gia đình đều viết hoa như:

Ðề Thám, Cai Kinh, Cả Huỳnh, Cả Tuyển, Tổng đốc Lê Hoan…

Thế nhưng ở nhiều chỗ khác, các tước vị lại không viết hoa:

Thí dụ: vua Hàm Nghi, tướng Voyron, quan ba Lambert…

-Các điạ danh, cách viết hoa cũng không thống nhất:

Thí dụ: Phủ Lạng Thương, tỉnh Hà Ðông, huyện Nhã Nam

(Phủ, huyện, tỉnh đều là đơn vị hành chánh thế mà phủ viết hoa còn tỉnh và huyện lại không viết hoa).

-Các biến cố lịch sử đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.

Thí dụ: Cuộc khởi nghĩa Yên Thế, chiến khu Yên Thế. Ðáng lý phải viết: Cuộc Khởi Nghĩa Yên Thế, Chiến Khu Yên Thế.

8) Lối viết hoa không thống nhất của Tạ Chí Ðại Trường trong Tạp Chí Văn Học năm 2000:

Tạ Chí Ðại Trường là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học sức học rất uyên bác nhưng cũng lại không để ý đến quy tắc viết hoa. Thí dụ:

Công Giáo (tất cả đều viết hoa)

Thế nhưng ở chỗ khác lại viết: Tam giáo (chữ giáo không viết hoa)

Tự Ðức kí Dụ: Ðáng lý kí viết hoa lại không viết hoa.

truờng Bảo hộ (chữ hộ không viết hoa) nhưng lại viết trường Chu Văn An (chữ an lại viết hoa)

Hồng vệ binh maxít phương Ðông: (chữ phương không viết hoa). Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Văn Minh Tây Phương (chữ phương lại viết hoa)

Hồng quân Trung Quốc (chữ quân đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Cộng hòa Ðại Hàn (chữ hòa đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Phong trào Không liên kết Thế giới thứ  Ba: Các chữ trào, liên kết, giới, thứ – đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.

9) Lối viết hoa của Nguyễn Hưng Quốc trong Tạp Chí Văn Học năm 2000

Nguyễn Hưng Quốc là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học. Là một nhà bình luận văn học rất kỹ lưỡng thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc cũng không chú ý đến quy luật viết hoa.

-Tên các tác phẩm đều viết hoa như:

Truyện Kiều

Thơ Mới của Hoài Thanh

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

thơ Nguyễn Công Trứ (chữ thơ không viết hoa)

-Các tên nhóm, hội đoàn đều viết hoa như:

Nhóm Sáng Tạo (chữ nhóm viết hoa)

trường phái Phê Bình Mới (đáng lẽ chữ trường phái cũng phải viết hoa)

Rồi ở một chỗ khác lại viết:

nhóm Ngôn ngữ học tại Moscow (đáng lý phải viết: Nhóm Ngôn Ngữ Học tại Moscow

II. Quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ

Trong văn chương Hoa Kỳ, viết hoa gọi là “capital letter ”, còn viết chữ thường gọi là “lower case”. Ðây là quy tắc thống nhất được áp dụng ở khắp mọi nơi. Ít khi thấy nhà văn, nhà thơ, nhà báo Hoa Kỳ vi phạm quy tắc này. Nguyên do chính là vì xã hội của họ đã ổn định cả hai trăm năm nay, việc gì cũng đã trở thành quy củ, nề nếp, có trường ốc. Ngoài ra tờ báo nào, nhà xuất bản nào cũng có một ban biên tập chịu trách nhiệm về vấn đề này chứ không “tự biên tự diễn, tự đánh máy, tự in, tự sáng chế” như chúng ta.

Giới thiệu quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ ở đây không có nghĩa là cái gì của Mỹ cũng nhất. Quy tắc nào cũng tốt cả nhưng với điều kiện phải thống nhất. Không thể ở đầu trang viết:Phong trào Ðông du rồi ở cuối sách lại viết Phong Trào Ðông Du. Nếu cứ tiếp tục viết lộn xộn như thế này thì con cháu chúng ta cũng sẽ tiếp tục thừa kế cái lộn xộn đó và hậu quả là cả ngàn năm sau nền văn chương Việt Nam vẫn cứ tiếp tục lộn xộn làm người ngoại quốc điên đầu khi nghiên cứu văn chương Việt Nam. Sau đây là quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ:

1) Tên người:

Thí dụ: Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lê Chân, Ông Tô Hiến Thành, Ông Cao Bá Quát, Ông Tôn Thất Thuyết, Bà Ðoàn Thị Ðiểm, Ông Ðặng Trần Côn, Cô Nguyễn Thị Giang, Cô Bắc.

2) Các con vật mình nuôi và thương mến/thú cưng (pet):

con Vàng, con Vện, con Loulou, con Cún, con Bống

3) Các chức vụ, tước hiệu và các chữ tắt của tên:

Thí dụ: Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sử Gia Lê Văn Hưu, Chúa Sãi, Chúa Trịnh, Bà Huyện Thanh Quan, Ðô Ðốc Tuyết, Cai Tổng Vàng, Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Giáo Sư Nguyễn C. Hách, GS. Phạm B. Tâm, Ðại Sứ Cabot Lodge, Tiến Sĩ Kissinger, Tổng Thống Roosevelt.

4) Ngôi thứ trong gia đình:

Thí dụ: Cô Bảy, Bác Ba, Bà Cả Tề, Thím Năm, Cô Ba Bến Tre, Cô Năm Phỉ, Út Trà Ôn.

5) Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành phố, quận:

Thí dụ: Thành Phố Ðà Lạt, Dinh Ðộc Lập, Phủ Thủ Hiến, Phủ Thủ Tướng, Tòa Thị Chính Nha Trang, Công Viên Tao Ðàn, Vườn Hoa Con Cóc, Vườn Hoa Chéo, Công Viên Tao Đàn, Chùa Hương Tích, Thành Phố Hải Phòng, Quận Hương Điền, Quận Châu Thành Mỹ Tho, Xã An Hội …

5) Bến, cảng, phi trường:

Thí dụ: Phi Trường Tân Sơn Nhất, Ga Hàng Cỏ, Bến Vân Ðồn, Bến Sáu Kho, Bến Ðò Bính, Bến Ðò Lèn, Bến Nhà Rồng, Cảng Hải Phòng

6) Ðường:

Thí dụ: Ðường Trần Hưng Ðạo, Xa Lộ Biên Hòa, Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 7, Hương Lộ 8…

7) Chợ:

Thí dụ: Chợ Bến Thành, Chợ Ðồng Xuân, Chợ Tân Ðịnh, Chợ Bà Chiểu, Chợ Lớn, Chợ Huyện Thanh Vân…

8) Núi, đèo, cửa ải:

Thí dụ: Núi Hoàng Liên Sơn, Núi Sam, Núi Ba Vì, Núi Ngũ Hành, Núi Ông Voi, Núi Ngự, Ðèo Hải Vân, Ðèo Cả, Ải Nam Quan…

9) Sông, thác, hồ, suối:

Thí dụ: Sông Hồng, Sông Mã, Sông Chu, Sông Hương, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Than Thở, Hồ Ba Bể, Thác Bản Giốc, Suối Giải Oan…

10) Vịnh, biển, đảo:

Thí dụ: Vịnh Hạ Long, Vịnh Cam Ranh, Rạch Cái Cối, Vũng Rô, Quần Ðảo Hoàng Sa, Quần Ðảo Trường Sa, Ðảo Tây Sa, Côn Ðảo, Hòn Bà, Hòn Chồng, Hòn Vọng Phu, Phá Tam Giang.

11) Ngày tháng:

Thí dụ: Tháng Giêng, Thứ Hai, nhưng mùa thu, mùa xuân (các mùa lại không viết hoa)

12) Ngày lễ:

Thí dụ: Lễ Hai Bà Trưng, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Ðán, Tết Ðoan Ngọ, Ngày Thiếu Nhi Toàn Quốc, Ngày Quốc Tế Nhân Quyền…

13) Nhóm, hội đoàn:

Thí dụ: Nhóm Sáng Tạo, Nhóm Ngàn Lau, Hội Ðua Ngựa Phú Thọ, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Hội Ái Hữu Gò Công, Câu Lạc Bộ Lướt Sóng, Môn Phái Vovinam, Môn Phái Thiếu Lâm, Trường Phái Siêu Thực, Trường Phái Dã Thú, Trường Phái Ấn Tượng.

14) Ban nhạc:

Thí dụ: Ban Thăng Long, Ban Tiếng Tơ Ðồng, Ban The Rolling Stone, Ðoàn Cải Lương Hương Mùa Thu, Ðoàn Thoại Kịch Tiếng Chuông Vàng.

15) Báo chí, tựa đề các cuốn sách, thơ, bài báo, vở kịch, bức hoạ, bản nhạc, truyện, cuốn phim và tựa đề của một bài viết:

Thí dụ: Nam Phong Tạp Chí, Tạp Chí Bách Khoa, Nhật Báo Người Việt, Ðoạn Tuyệt, Thơ Vũ Hoàng Chương, Truyện Kiều, Kịch Lôi Vũ, Trường Ca Con Đường Cái Quan, Cầu Sông Qwai…

16) Thánh thần và kinh sách:

Thí dụ: Trời, Phật, Chúa, Ðức Thánh Trần, Bà Chúa Liễu Hạnh, Mẹ Âu Cơ, Kinh Kim Cang, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Coran, Kinh Cựu Ước..

17) Miền, vùng của một đất nước (nhưng không phải để chỉ phương hướng). Thí dụ:

Miền Nam, Miền Bắc, Miền Trung, Vùng Cao Nguyên, Miền Tây, Vùng Tây Bắc, Bắc Bình Ðịnh…

18) Các biến cố lịch sử, tài liệu, mốc thời gian:

Thí dụ: Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, Ðệ II Thế Chiến, Thời Kỳ Chiến Tranh Lạnh…

Thời Kỳ Bắc Thuộc, Thời Kỳ Trịnh – Nguyễn Phân Tranh, Thời Kỳ Phục Hưng, Nhà Hậu Lê, Bình Ngô Ðại Cáo…

19) Ngôn ngữ, chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo:

Thí dụ: Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Hoa Ngữ, Nhật Ngữ, Việt Ngữ

Thái, Nùng, Dao, Mèo, Kinh, Thượng, Mường, Ra-Ðê, Việt, Hoa v.v…

Việt Tịch, Pháp Tịch, Ấn Tịch…

Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Ấn Ðộ Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo…

20) Tên các con tàu, xe lửa, máy bay hoặc nhãn hiệu xe hơi:

Thí dụ: Tuần Dương Hạm Yết Kiêu, Khu Trục Hạm Vạn Kiếp, Hàng Không Mẫu Hạm Trần Hưng Ðạo…La Dalat, Citroyen, Toyota v.v…

Thiên Lôi (Thunderchief), Con Ma (Phantom)

21) Chữ đầu của câu trích dẫn:

Thí dụ: Trần Bình Trọng dõng dạc nói, “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.”

Xin  quý vị nào nghiên cứu về văn phạm Việt Nam đóng góp thêm ý kiến để sau này có thể hình thành một quy tắc viết hoa thống nhất cho văn chương Việt Nam.

Đào Văn Bình

(Trích Tuyển Tập 20 Năm Viết Văn xuất bản năm 2004)

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2019

Tôn Sư Trọng Đạo

Ông Henry Adams (1838-1918)

một nhà sử học của Hoa kỳ nói:

A teacher affects eternity. He can never tell where his influence stops.
(Công trạng của thầy giáo tồn tại vĩnh cửu và ảnh hưởng của thầy giáo không đời nào ngưng)




Mặc dù Trường Trung Học Công Lập Đất đỏ đã đi vào dĩ vãng nhưng cựu học sinh vẫn luôn giữ tinh thần
1. Tôn Sư Trọng Đạo 
尊师重
2.  bảo tồn truyền thống
Nhất Tự Vi Sư, Bán Tự Vi Sư
 


Ngày  26 tháng 5 năm 2019, các cựu học sinh họp mặt mừng tuổi thọ cho cựu giáo sư Trần Ngọc Quân

   
Chữ Hán :
                                             
 
                               
Ngoài ra đồng nghiệp cũng trao tặng lưu niệm chữ Tâm 
cho cựu gs Trần Ngọc Quân