Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2018

Năm Canh Sáu Khắc

"Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng
Ðêm năm canh lắng tiếng chuông rền



Hay


Ngày sáu khắc thẩn thờ mong tin nhạn,
Đêm năm canh chờ đợi tháng ngày trôi!


ĐÊM NĂM CANH NGÀY SÁU KHẮC ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO?

Mọi người hay nhầm tưởng là ban đêm tính bằng canh và ban ngày tính bằng khắc, thật ra, không phải là như vậy. ban ngày không tính bằng "Khắc" mà tính theo từng giờ giấc qui định theo thuật Can Chi.

Theo lịch cổ, "Thời" và "Khắc" là đơn vị thời gian. Thời được tính theo giờ và Khắc được tính theo phút. mỗi ngày đêm chia thành 12 thời (mỗi thời tương đương 2 giờ). mỗi khắc = 1/100 *ngày, tức là: (24*60)/100 = 14,40 phút , đến triều Nguyễn lại đổi 1 khắc = 1/96* ngày, tức bằng 15 phút ("khắc" là chỉ vạch khắc trên thùng nhỏ nước tính giờ, một ngày đêm thì nhỏ hết 1 thùng).
Người xưa thích dùng lịch can chi (hay còn gọi là: Thập Can Thập Nhị Chi) là hệ thống đánh số thành chu kỳ được dùng tại các nước có nền văn hóa Á Đông như: Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore.... Nó được áp dụng với tổ hợp chu kỳ sáu mươi (60) trong âm lịch nói chung để xác định tên gọi của thời gian.
Can được gọi là Thiên Can hay Thập Can do có đúng thập (10) can khác nhau: Canh (0), Tân (1), Nhâm (2), Quý (3), Giáp (4), Ất (5), Binh (6), Đinh (7), Mậu (8), Kỹ (9).
Chi được gọi là Địa Chi hay Thập Nhị Chi do có đúng thập nhị (12) chi khác nhau: Tý (1) , Sửu (2), Dần (3), Mão (4), Thìn (5), Tỵ (6), Ngọ (7), Mùi (8), Thân (9), Dậu (10), Tuất (11), Hợi (12).
Tất cả các Can Chi và Địa Chi kết hợp với nhau sẻ thành chu kỳ 60 năm hay còn gọi là "lục thập hoa giáp", chu kỳ của một đời người.



Ảnh Minh Họa: Zhinü và Niulang,
tranh vẽ của họa sĩ Tsukioka Yoshitoshi, thế kỷ 19
Để tính thời gian của một ngày đêm, người ta chia  từ giờ Tý (tức là từ 23 giờ tối hôm trước đến 1 giờ sáng hôm sau)... và giờ Hợi (từ 21 giờ đến 23 giờ trong ngày).
Giờ Tý: 23 giờ → 1 giờ sáng
Sửu: 1 → 3
Dần: 3 → 5 (Giờ Cọp đi ăn trở về lại rừng)
Mão: 5 → 7
Thìn: 7 → 9
Tỵ: 9 → 11
Giờ Ngọ: 11 → 13 (đúng Ngọ tức là 12 giờ trưa)
Mùi: 13 → 15
Thân: 15 → 17
Dậu: 17 → 19 (Giờ Gà lên chuồng ngũ)
Tuát: 19 → 21
Hợi: 21 → 23
Người xưa rất chú trọng về thời gian của ban đêm (tối lửa, tắc đèn), các chính quyền thời phong kiến đặt ra các viên tuần kiểm (tuần tra ban đêm) nhằm báo hiệu giờ, khắc theo từng thời gian trôi qua trong một đêm, bằng tiếng hiệu lệnh của :kẻng". Họ nghĩ rằng, mỗi đêm chỉ có 10 giờ (từ 7 giờ tối đến 5 giờ sáng), nó trùng với Thập Can, mà Thập Can lại bắt đầu bằng chử "Canh", từ đó họ chia một đêm (10 giờ) thành 5 canh (từ canh 1 tới canh 5).

Tên Canh
Thời Gian
Canh 1
Từ 19 giờ đến 21 giờ tức giờ Tuất
Canh 2
Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya tức giờ Hợi
Canh 3
Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng tức giờ Tý
Canh 4
Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng tức giờ Sửu
Canh 5
Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng tức giờ Dần

Vì ban ngày là rỏ ràng minh bạch, do vậy phải định vị thời gian cho thật chuẩn xác theo từng giờ, nên vào thời gian nào thì có tên gọi đúng như vậy, chẳng hạn, giờ Ngọ là giữa trưa (từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều).
Mọi người hay nhầm tưởng là ban đêm tính bằng canh và ban ngày tính bằng khắc, thật ra, không phải là như vậy. " Đêm 5 Canh, Ngày 6 Khắc" chỉ là nhân cách hóa sự chờ đợi, theo thời gian mà thôi, ở đây là cách phân biệt giữa ban ngày và ban đêm, cũng như người ta nói "49 gặp 50" vậy, ban ngày không tính bằng "Khắc" mà tính theo từng giờ giấc qui định của thuật Can Chi (Tý, Sử, Dần Mão..).
Trong "Cung Oán Ngâm Khúc" của Nguyễn Gia Thiều có câu:
"Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng
Ðêm năm canh lắng tiếng chuông rền
Lạnh lùng thay giấc cô miên
Mùi hương tịch mịch bóng đèn thâm u"
Không gian trong Cung oán ngâm khúc là không gian của chốn tiêu phòng lạnh lẽo. Thời gian trong Cung oán ngâm khúc chủ yếu là mùa thu và bóng đêm, chỉ còn lại nỗi cô đơn của tháng ngày vời vợi. Ngày sáu khắc, đồng nghĩa với từng khắc, từng giây, nhớ mong, mòn mõi đợi chờ.
"Trong gang tấc mặt trời xa bấy,
Phận hẩm hiu nhường ấy vì đâu?
Sinh ly đòi rất thời Ngâu,
Một năm còn thấy mặt nhau một lần."
Chàng Ngưu chỉ có một nàng "Chức Nữ, mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần trên chiếc cầu Ô Thước". 
Ngày sáu khắc thẩn thờ mong tin nhạn,
Đêm năm canh chờ đợi tháng ngày trôi!

Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2018

Ngô đồng nhất diêp lạc

Tháng 8 năm 2010 cựu giáo sư Võ Ngọc Sơn hỏi cựu giáo sư Trần - Văn Phét về hai câu chữ Hán:

Ngô đồng nhất diệp lạc
梧桐一葉落
Thiên hạ tận tri thu
天下盡知秋
Sau đây là lời giải thích của cựu gs Trần-Văn Phét:


Cây ngô đồng được nhiều thi nhân dùng để miêu tả mùa thu  . Trong điển tích “Bá Nha Tử Kỳ” cũng nhắc đến . Vua Phục Hy thấy 5 vì sao xẹt xuống cây ngô đồng rồi chim phượng hoàng đến đậu . Vua cho người cắt cây ngô đồng làm 3 phần: thiên, địa, nhân và làm đàn . Chỉ có đọan giữa là tiếng vừa thanh vừa đục nên đem ra sông ngâm 4 tuần lễ (72 ngày) rồi phơi khộ sau đó chọn ngày lành tháng tốt giao cho Lưu Tử Kỳ làm đàn, dựa theo Cung dao trì và đặt tên Dao cầm.
Ca dao ta cũng có nói về cây ngô đồng:
Cây ngô đồng cành biếc
Con chim phượng hoàng nó đậu cành cao
Thươmg em phận gái má đào
Bởi tham đồng bạc trắng nên em mới vào chốn cực thân

Không ai biết rõ nguồn gốc câu thơ chữ Hán:
Ngô đồng nht dip lc
Thiên h
tn tri thu
Tuy nhiên trong bài 群芳譜 quần phương phổ của ông Vương Tượng Tấn 王象晋(1561-1653) viết vào năm 1621 có 4 câu:
梧桐一葉落,
Ngô đồng nhất diệp lạc
天下盡知秋。
Thiên hạ tận tri thu
梧桐一葉生,
Ngô đồng nhất diệp sinh
天下新春再
Thiên hạ tân xuân tái
Nghĩa là:
Một chiếc lá ngô đồng rơi
Mọi người đều biết mùa thu
Một nhánh lá ngô đồng nẩy chồi
Mọi người biết xuân trở lại
Có nhiều giả thuyết khác nhau nhưng không ai xác dịnh được căn nguyên của hai câu thơ đó. Thậm chí có người viết :
 thiên hạ cộng tri thu  
hay
 thiên hạ cộng bi thu


Virginia ngày 27 tháng 8 năm 2010
Trần-Văn Phét

Cái quạt

Ôn cố nhi tri tân  
Kính mời quí thầy cô  và đọc giả  đọc lại bài ca dao "Cái quạt"


Cái quạt mười tám cái nan,
Ở giữa phết giấy, hai nan hai đầu.
Quạt này anh để che đầu,
Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này.
Ước gì chung mẹ chung thầy,
Để em giữ cái quạt này làm thân!
Rồi ta chung gối, chung chăn,
Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu.
Nằm thời chung cái giường Tàu,
Dậy thời chung cả hộp trầu ống vôi.
Ăn cơm chung cả một nồi,
Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa.
Chải đầu chung cả lược ngà,
Soi gương chung cả nhành hoa giắt đầu.

Và sau đây là thơ Cái quạt của thi sĩ Nguyễn Bính

Cái qut mười tám cái nan
Anh pht vào đấy muôn vàn nh nhung

Gió sông, gió núi, gió rng

Anh nim thn chú thì ngng li đây.


Gió Nam Bc, gió Đông Tây

Hãy hu công chúa thâu ngày, thâu đêm

Em ơi công chúa là em

Anh là quan trng đi xem hoa v


Trên gii có vy tê tê

Đôi bên ước th duyên hãy tròn duyên
Qut này trng để làm tin

Đêm nay khép m tình duyên vi nàng.

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2018

Kinh nghiệm chữa bệnh bằng tỏi



Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Tháng 12 năm 1998, một cuộc hội thảo kéo dài hai ngày rưỡi đã được tổ chức tại Newport Beach, California, để thảo luận và trình bày kết quả nghiên cứu về công dụng của tỏi.
Hội thảo được Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ và Đại Học Pennsylvania bảo trợ, với sự tham dự của trên hai trăm khoa học gia, chuyên viên y tế, dinh dưỡng đến từ 12 quốc gia trên thế giới.
Kết luận của hội thảo là các cuộc nghiên cứu trong nhiều năm qua đã xác định những ích lợi của tỏi đối với sức khỏe con người.
Kinh nghiệm chữa bệnh bằng tỏi.
Chữ viết đầu tiên của dân Sanskrit cách đây 5000 năm đã nhắc đến TỎI nhiều lần.
Trong mộ cổ Ai Cập 6000 năm về trước có những củ tỏi khô nằm ướp trong nắm xương. Sách Y học Ai Cập trên 3000 năm về trước có ghi hai mươi bài thuốc tỏi để trị một số bệnh như đau bụng, đau nhức khớp xương, nhiễm độc, cơ thể suy nhược...
 Công nhân xây đắp Kim Tự Tháp được cung cấp thực phẩm có tỏi để tăng cường sức lao động. Những giác đấu Hi Lạp, binh sĩ La Mã cũng được cho ăn tỏi để chiến đấu can trường, dũng cảm hơn.
Trong các cuộc hải hành, dân Virking đều mang tỏi theo làm lương thực và để trị bệnh khi cần đến.
Tỏi đã được các vị thầy thuốc xưa kia ca ngợi như một dược thảo có giá trị. Ông tổ nền y học tây phương Hippocrates (460-377 trước Công nguyên) đã coi tỏi là môn thuốc tốt để trị các bệnh nhiễm độc, bệnh viêm, bệnh bao tử, và loại trừ nước dư trong cơ thể.
Galen (129 – 199), một trong những danh y nổi tiếng sau Hippocrtes, đã  ca tụng tỏi như môn thuốc dân tộc trị được nhiều bệnh.
Theo Pedonius Dioscorides (40 – 90), một danh y  Hy Lạp, thì tỏi làm giọng nói trong trẻo, làm bớt ho, làm thông tắc nghẽn ở mạch máu, làm lợi tiểu, bớt đau răng, chữa bệnh ngoài da, và chữa cả hói tóc nữa.
Vào thế kỷ 16, Alfred Franklin nói với dân chúng thành phố Paris là nếu họ ăn tỏi tươi với bơ vào tháng Năm thì họ sẽ được khỏe mạnh trong những tháng còn lại.
Trong thế chiến thứ nhất, người Nga đã dùng tỏi để trị bệnh nhiễm vi trùng. Họ gọi tỏi là “thuốc kháng sinh Nga Sô”. Các bác sĩ Anh cũng đã  biết dùng tỏi để trị vết thương làm độc ở chiến trường.
 Khi có các dịch cúm vào đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, đã dùng tỏi như một phương tiện để chống lại sự hoành hành của bệnh.
Sách xưa có ghi lại câu chuyện về bốn tên trộm lừng danh ở thành phố Marseille: trong vụ dịch hạch kinh khủng ở thành phố này, có bốn tên trộm vẫn ngang nhiên vào nhà các người bị bệnh để trộm của mà không bị lây bệnh. Khi bị bắt, chính quyền hứa sẽ tha tội nếu họ nói bí quyết không lây bệnh. Bốn chú đạo trích khai là suốt thời gian dịch hạch, họ ăn rất nhiều tỏi tươi, do đó họ không bị bệnh.
Vào thời Trung Cổ, khi đi vào  những vùng nhiễm độc, các thầy thuốc đều mang nhiều nhánh tỏi để phân phát cho dân chúng cũng như để ngăn chặn hơi độc xâm nhập vào mũi.
Các triết gia cũng có nhiều nhận xét về giá trị của tỏi.
 Celsius, vào thế kỷ I đã  khuyên dùng tỏi để trị nóng sốt và bệnh đường ruột.
Virgil (70 – 19) thấy tỏi làm tăng sức lực của nông dân.
Aristophanes (448 – 385 trước Công nguyên) thì nhắc nhở lực sĩ, chiến sĩ ăn tỏi trước khi xuất trận để chiến đấu cang cường hơn.
Dân Nga xưa kia ngâm tỏi với rượu vodka, để lâu hai tuần rồi uống và tin là sẽ sống lâu.
Dân Ukraine uống nước chanh ngâm tỏi để làm tăng sức lực, làm người trẻ ra.
Dân Da Đỏ bắt chước đoàn thám hiểm Tây Ban Nha, dùng tỏi để trị các bệnh khó tiêu, đau bụng, đau tai và họ rất ít bị bệnh yết hầu vì mùi tỏi làm cuống phổi mở rộng, hô hấp sể dàng.
Người Mỹ xưa kia chữa bệnh tim phổi bằng cách đắp tỏi giã nhỏ lên chân và họ giải thích là như vậy tỏi sẽ hút hết chất độc xuống để đưa ra ngoài. Tổng Thống Benjamin Franklin thích ăn súp nấu với tỏi, còn binh sĩ của Tổng Thống George Washington thì được cho thêm tỏi trong khẩu phần.
Vào đầu thế kỷ trước, bệnh lao rất phổ biến và khó trị vì chưa có thuốc kháng sinh. Các bác sĩ bèn chữa bằng tỏi và thấy là rất công hiệu để diệt vi trùng lao. Sau đó một thời gian, nước Mỹ bị dịch cúm và bệnh tinh hồng nhiệt, dân chúng bèn đốt tỏi trong nhà và hơi khói tỏi che trở nhiều người khỏi bị bệnh. Nhiều người còn nhai tỏi để ngửa bệnh cúm.
Năm 1941, bác sĩ Emil Weiss ở Chicago làm một cuộc thử nghiệm trị bệnh bằng tỏi cho 22 người mang các bệnh khác nhau như đau bụng, nhức đầu, táo bón. Kết quả là những người này hết bệnh.
Về niềm tin dị đoan, tỏi đã được dùng là vũ khí để trừ tà ma , quỷ quái. Dân Âu châu xưa rất sợ ma cà rồng hút máu và để xua đuổi, mỗi nhà đều cheo nhiều nhánh tỏi ở trước cửa. Văn tự Ấn Độ giáo từ nhiều ngàn năm trước có ví một củ tỏi như một tráng sĩ diệt trừ yêu quái.
Dân nài ngựa cheo vài nhánh tỏi vào cương để ngựa phi mau hơn. Nằm mơ thấy tỏi là điềm lành.
Trong các cộng đồng Do Thái xưa kia, vài nhánh tỏi được trang điểm vào áo cưới cô dâu với niềm tin là cuộc hôn nhân sẽ muôn vàn hạnh phúc.
Dân Ai Cập so sánh hương vị cay hôi của tỏi với những thăng trầm của cuộc đời.
Các tu sĩ nói với con chiên là khi họ cầm vài nhánh tỏi trên tay tức là đang cầm mọi phức tạp của cuộc đời. Và khi tuyên thệ, họ đặt tỏi trên bàn tay hay trên bàn thờ.
Bên Việt Nam ta, các cụ cheo tỏi trước cửa buồng đàn bà mang bầu để trẻ sinh  ra được mẹ tròn con vuông, khỏe mạnh                 
 Đông Y việt Nam ta ghi nhận công dụng trị bệnh của tỏi như sau: “tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc nằm trong hai kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chữa bệnh lỵ ra máu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đàm, chữa đầy chướng bụng, đại tiểu tiện khó khăn. Người âm nhu, nội thiệt, có thai, đậu chẩn, đau mắt không nên dùng.
 Kết qủa nghiên cứu công dụng tỏi trong trị bệnh
Qua nhiều nghiên cứu khoa học và qua kinh nghiệm xử dụng của dân chúng, thì tỏi không những là một thực phẩm ngon mà còn có nhiều công dụng trị bệnh.
Nnăm 1951, hai nhà hóa học Thụy sĩ Arthur Stoll và Ewald Seebeck đã tìm ra hóa chất chính của tỏi là chất Alliin và men Allinase. Hai chất này được giữ riêng rẽ trong tế bào tỏi
1 - Tỏi và cholesterol.
Khi quan sát dân chúng ở một số vùng ăn nhiều tỏi, các nhà nghiên cứu thấy họ rất ít bị các bệnh về tim mạch, mặc dù họ ăn nhiều thịt động vật và uống nhiều rượu vang. Có  người cho là do ảnh hưởng của rượu vang, nhưng các bác sĩ ở địa phương thì cho là nhờ uống rượu và ăn nhiều tỏi.
Sự kiện này thúc đẩy các chuyên viên của Đại Học Western Ontario, Canada, để tâm nghiên cứu và họ kết luận rằng một dân tộc càng ăn nhiều tỏi thì bệnh tim mạch càng ít. Bằng chứng là dân Triều Tiên ăn nhiều tỏi và họ cũng ít bị bênh tim.
Nhiều khoa học gia bèn nghiên cứu tương quan giữa tỏi và bênh tim ở súc vật trong phòng thí nghiệm. Họ đều thấy là tỏi làm chậm sự biến hóa của chất béo trong gan, khiến gan tiết ra nhiều mật, đồng thời cũng lấy bớt mỡ từ thành động mạch.
Các bác sĩ H.C. Bansal và Arun Bordia ở Ấn Độ nhận thấy khi ăn bơ với tỏi, cholesterol trong máu đã không lên cao mà còn giảm xuống.
 Năm 1990, nghiên cứu do bác sĩ F.H. Mader ở Đức cho hay, nếu mỗi ngày ăn vài nhánh tỏi thì cholesterol sẽ giảm xuống tới 15%.
 Một nghiên cứu tương tự ở Đại học Tulane, New Orleans do bác sĩ A. K. Jain thực hiện năm 1993 cho thấy người có cholesterol cao, khi dùng tỏi một thời gian, thì cholesterol giảm xuống được 6%. Đó là một sự giảm đáng kể.
Bác sĩ Benjamin Lau, thuộc Đại Học Loma Linda, California cho biết là tỏi giúp chuyển cholesterol xấu LDL thành cholesterol lành HDL. Còn bác sĩ Myung Chi của Đại Học Lincoln ở Nebraska chứng minh là tỏi làm hạ cholesterol và đường trong máu.
Một câu hỏi được nêu lên là tỏi có làm giảm cholesterol ở người có mức độ trung bình không? Các nhà nghiên cứu cho là tỏi có một vài ảnh hưởng, nhưng nếu cholesterol cao thì tác dụng của tỏi tốt hơn. Có bác sĩ còn cho là tỏi công hiệu hơn một vài âu dược hiện đang được dùng để chữa cholesterol cao trong máu.
Do hạ thấp cholesterol trong máu, tỏi có thể ngăn ngừa nguy cơ một số bệnh tim. Đã có nhiều bằng chứng rằng cholesterol trong máu lên cao là nguy cơ đưa tới các bệnh vữa xơ động mạch và dột quỵ.
 2 - Tỏi và sự đông máu
Tỏi có tác dụng ngăn sự đóng máu cục, một nguy cơ của kích tim và tai biến động mạch não.
 Máu cục gây ra do sự dính chùm của tiểu cầu mỗi khi có dấu hiệu cơ thể bị thương để ngăn ngừa sự xuất huyết.
Trong tỏi có chất Ajoene được  bác sĩ Eric Block, Đại học Nữu Ước, khám phá ra. Theo ông ta, chất này có công hiệu như aspirin trong việc làm giảm sự đóng cục của máu, lại rẻ tiền mà ít tác dụng phụ không muốn. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của bác sĩ I.S. Menon là ở miền nam nước Pháp, khi ngựa bị máu đóng cục ở chân thì nông gia đều chữa khỏi bằng cách cho ăn nhiều tỏi và hành.
Bệnh viện Hải quân Hoa Kỳ trong trại Pendleton, California, cũng công bố là tỏi có chất ngừa đông máu do đó có thể làm máu lỏng và ngăn ngừa tai biến động mạch não, kích tim vì máu cục.
Ngay cả ông tổ của nền y học cổ truyền Ấn Độ Charaka vào thế kỷ thứ 2 cũng  ghi nhận là “ tỏi giúp máu lưu thông dễ dàng, làm tim khỏe mạnh hơn và làm con người sống lâu. Chỉ vì mùi khó chịu của nó chứ không thì tỏi sẽ đắt hơn vàng”.
 Các thầy thuốc xưa kia cũng nói là tỏi làm máu loãng hơn.Tác dụng này diễn ra rất mau, chỉ vài giờ sau khi dùng tỏi. Chưa có trường hợp nào trong đó ăn nhiều tỏi đưa đến máu loãng rồi dễ xuất huyết, vì tỏi chỉ làm máu loãng tới mức bình thường thôi.
3 - Tỏi và cao huyết áp
Tỏi được dùng để trị bệnh cao huyết áp ở Trung Hoa từ nhiều thế kỷ trước đây. Tại Nhật Bản, giới chức y tế chính thức thừa nhận tỏi là thuốc trị huyết áp cao.
Năm 1948, bác sĩ F.G. Piotrowski ở Geneve làm thế giới ngạc nhiên khi ông tiết lộ kết quả tốt đẹp khi dùng tỏi để trị cao huyết áp. Theo ông, tỏi làm giãn mở những mạch máu bị nghẹt hay bị co rút, nhờ đó máu lưu thông dễ dàng và áp lực giảm. Các nghiên cứu ở Ấn Độ, Gia Nã Đại, Đức cũng đưa đến kết quả tương tự.
Nhà sinh học V. Petkov thực hiện nhiều nghiên cứu ở Bulgarie cho hay tỏi có thể hạ huyết áp tâm thu từ 20-30 độ, huyết áp tâm trương từ 10 tới 20 độ.
4 - Tỏi và cúm
Trong các dịch cúm vào đầu thế kỷ trước, dân chúng đã dũng tỏi để ngăn ngừa sự lan tràn của bệnh này. Y học dân gian nhiều nước đã chữa cảm cúm bằng cách thoa tỏi tươi mới cắt vào bàn chân.
 Trong dịch cúm ở Liên Xô cũ vào năm 1965, dân Nga đã tiêu thụ thêm trên 500 tấn tỏi để ngừa cúm. Trước đó, vào năm 1950, một bác sĩ người Đức đã công bố là tinh dầu tỏi có khả năng tiêu diệt một số vi sinh có hại mà không làm mất những vi sinh vật lành trong cơ thể.
 Bác sĩ Tarig Abdullah ở trung tâm nghiên cứu tại Tampa, Florida, công bố năm 1987 là tỏi sống và tỏi chế biến đều làm tăng tính miễn dịch của cơ thể với vi trùng, ngay cả HIV và làm giảm nguy cơ vài bệnh ung thư. Cá nhân ông ta đã liên tục dùng mấy nhánh tỏi sống mỗi ngày từ năm 1973 và chưa bao giờ bị cảm cúm.
Từ năm 1950, bác sĩ J. Klosa bên Đức đã dùng tỏi để chữa lành những bệnh đau cuống họng, sổ mũi, ho lạnh. Ông ta vừa cho bệnh nhân uống vừa ngửi tinh dầu tỏi. Theo ông ta, đó là nhờ chất Alliin trong tỏi.
Trong bệnh cảm cúm, bệnh nhân thường sưng cuống phổi, bị ho, sổ mũi. Bác sĩ Irvin Ziment, California, nhận thấy tỏi có thể làm giảm những triệu chứng trên, làm bệnh nhân bớt ho, long đàm, thở dễ dàng và không bị nghẹt mũi. Theo vị thầy thuốc này thì vị hăng cay của tỏi kích thích bao tử tiết ra nhiều dịch vị chua; dịch vị này chuyển một tín hiệu lên phổi khiến phổi tiết ra nhiều dung dịch lỏng làm long đờm và đưa ra khỏi phổi.
 Các bác sĩ bên Ba Lan trước đây dùng tỏi để trị bênh suyễn và viêm phổi ở trẻ em
5 - Tỏi và ung thư
Hiện nay đang có nhiều nghiên cứu coi xem tỏi có công dụng trị ung thư ở người như kết quả nhận thấy ở động vật trong phòng thí nghiệm hay không.
Từ năm 1952, các khoa học gia Nga Sô Viết đã thành công trong việc ngăn chặn sự phát triển của một vài tế bào ung bướu ở chuột.
Thí nghiệm ở Nhật Bản cho hay tỏi có thể làm chậm sự tăng trưởng tế bào ung thư vú ở loài chuột và tỏi có chất oxy hóa rất mạnh để ngăn chặn sự phá tế bào do các gốc tự do gây ra.
Tại viện Ung Thư M.D. Anderson, Houston, các bác sĩ đã cứu một con chuột khỏi bị ung thư ruột già bằng cách cho uống chất Sulfur trong tỏi. Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ đang đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu khả năng trị bệnh ung thư của hóa chất sulfur này.
 Nghiên cứ tại Trung tâm Y khoa Sloan Kettering  cho hay nước chiết của tỏi có thể chăn sự tăng trưởng tế bào ung thư nhiếp hộ tuyến.
6 - Tỏi dùng làm thuốc kháng sinh
Từ lâu, dân chúng tại nhiều quốc gia trên thế giới đã dùng tỏi để chữa một số bệnh gây ra do vi khuẩn như kiết lỵ, bệnh tiêu chẩy, bệnh thương hàn, viêm cuống họng, mụn nhọt ngoài da, thối tai và tỏi được gọi là thuốc kháng sinh dân tộc.
Trong hai thế chiến, tỏi được dùng để chữa vết thương cho binh sĩ tại chiến trường. Người ta cũng dùng tỏi để trị vết thương do côn trùng, rắn cắn. Nông dân, thợ săn đều mang theo tỏi phong hờ khi bị các sinh vật này cắn thì tự chữa.
Năm 1858, nhà bác học Pháp Louis Pasteur (1822 – 1895) đã chứng minh được công dụng diệt vi khuẩn của tỏi.
Năm 1944, nhà hóa học Chester J. Cavallito, làm việc cho công ty hóa chất Winthrop  ở Hoa Kỳ, đã phân tích được hóa chất chính trong tỏi có công dụng như thuốc kháng sinh. Đó là chất Allicin, chỉ có trong tỏi chưa nấu hay chế biến. Kháng sinh này mạnh bằng 1/5 thuốc Penicilin và 1/10 thuốc Tetracycline, có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn, xua đuổi hoặc tiêu diệt nhiều sâu bọ, ký sinh trùng, nấm độc và vài loại virus.
Theo nhiều nghiên cứu, allicin có tác dụng ức chế sinh trưởng vi khuẩn nhiều hơn là diệt chúng. Nói một cách khác, chất này không giết vi khuẩn đã có sẵn mà ngăn chặn sự sinh sôi, tăng trưởng và như vậy có thể ngừa bệnh, nâng cao tính miễn dịch, làm bệnh mau lành.
Nghiên cứu tại Brazil năm 1982 đã chứng minh là nước tinh chất của tỏi có thể chữa được nhiều bệnh nhiễm độc bao tử, do thức ăn có lẫn vi khuẩn, nhất là loại Salmonella. Các nghiên cứu tại Đại Học California ở Davis cũng đưa đến kết luận tương tự. Ngoài ra, tỏi cũng được dùng rất công hiệu để trị bệnh sán lãi, giun kim, các bệnh nấm ngoài da...
 Một nhà nghiên cứu đã hào hứng tuyên bố rằng “ tỏi có tác dụng rộng rãi hơn bất cứ loại kháng sinh nào hiện có. Nó có thể diệt vi trùng, nấm độc,siêu vi trùng, ký sinh trùng lại rẻ tiền hơn, an toàn hơn vì không có tác dụng phụ và không gây ra quen thuốc ở vi trùng”.
 Giáo sư Arthur Vitaaen (1895-1973), người đoạt giải Nobel năm 1945, cũng đồng ý như vậy.
Do đó ta không lấy làm lạ là trong Thế chiến thứ nhất, các bác sĩ Anh quốc đã dùng tỏi để chữa vết thương làm độc.
Thực tế ra, tỏi được dùng với những nhiễm độc nhẹ, không nguy hiểm tới tính mạng. Còn các trường hợp nhiễm trùng cấp tính và trầm trọng thì  không thể dựa vào các loại “kháng sinh thực vật” này.
7 - Tỏi với tuổi thọ
Theo dân chúng vùng Ukraine, ngâm nửa kí tỏi cắt hay giã nhỏ bỏ vào nước vắt của 25 quả chanh, để qua đêm rồi mỗi ngày uống một thìa pha với nước lạnh, trong hai tuần sẽ thấy trẻ khỏe ra. Các nhà văn Ukraine nói thêm rằng  uống thường xuyên rượu tỏi thì con người sẽ cảm thấy trẻ trung.
Nhiều vị cao niên Việt Nam cũng thường uống rượu ngâm với tỏi, tin tưởng là sẽ được cải lão hoàn đồng, kéo dài tuổi thọ. Họ nghiền khoảng 200 gr tỏi tươi, ngâm trong 300gr rượu mạnh, để vào nơi mát trong hai tuần rồi uống trước mỗi bữa ăn chừng năm tới mười giọt.
Ở vùng Balkan, số người thọ trên 100 tuổi rất cao và được giải thích là họ nhai nhiều nhánh tỏi mỗi ngày.
 Ngoài ra, Tỏi còn một số công dụng khác như:
 Nhà thiên nhiên học La Mã Pliny viết rằng tỏi mà đưa cay với rượu vang thì con người làm tình rất điệu nghệ. Do đó dân chúng La Mã ăn nhiều tỏi và coi tỏi là thuốc kích thích tình dục.
Nghiên cứu mới đây ở loài chuột cho thấy tỏi có thể có tác dụng tốt trên các chức năng của não bộ, tăng trí nhớ và có thể nâng cao tuổi thọ.
Theo bác sĩ Paavo Airola, một nhà chuyên môn dinh dưỡng tại Phoenix, Arizona, tỏi với các hóa chất sulfur của nó, có thể chữa được bệnh mụn trứng cá, bệnh khí thũng phổi làm khó thở, khó tiêu bao tử, táo bón, cảm lạnh.
 Các nghiên cứu của bác sĩ D Sooranna và I Das bên Luân đôn cho hay dùng tỏi khi mang thai có thể làm giảm nguy cơ tiền sản giật , (cao huyết áp và đạm chất trong nước tiểu ) và làm trẻ chậm lớn được mau lên cân hơn.
 Và cuối cùng là một nghiên cứu ở Monnel Chemical Senses Center, Philadelphia, cho biết là  khi mẹ ăn tỏi, con sẽ bú sữa mẹ lâu hơn và nhiều hơn vì tỏi làm tăng khẩu vị của em bé.

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

Gánh tàu hũ



Tác giả Ara là Nguyễn Hữu Phát, bạn của cựu gs Trần-Văn Phét, cả hai là cựu giáo sinh lớp 10 Trường Sư Phạm Sài Gòn năm 1968. Sau khi ra trường Ara Phát về dạy trường tiểu học ở Phước Long. Nay tác giả cùng gia đình định cư ở Bỉ.


Ban biên tập xin giới thiệu đến quí đọc giả bài Gánh tàu hũ, nhắc lại những kỷ niệm khó quên của những ai từng dừng bước ở Sài gòn.

Tình cờ thấy bài này trên Cali today ,chắc bạn bè nhiều người ở Cali đã đọc ,  chỉ là từ hạt đậu nành mà thiên biến vạn hóa thành bao nhiêu là món ăn trong ẩm thực không riêng gì ở Việt Nam mà của nhiều quốc gia Á châu ,đọc xong Ara lại nói leo chút ít về món ăn dân dã này , cái tật nói leo bị mấy bạn già 471 của Ara hay mắng là "thằng nhìu chiệng" ...

Nói đến chuyện tàu hũ .
Cái món này vốn là món ăn bình dân .
Không hẳn ở Việt Nam  , cũng không hản là bình dân mà đôi lúc nó trở thành món ăn tinh tế , cầu kỳ , mỗi nơi đều có món ăn đặc thù làm từ đậu nành ,ngoài bắc gợi món ăn vặt này là "tào phớ " cái tên này mẹ tôi vẫn quen gọi ngay cả lúc đã sống nhiều năm ở Saigon .
Nếu có dịp đi bụi một vòng các nước Á châu, mỗi nơi đều có món tàu phớ , cung cách và khẩu vị cũng khác nhau ,lần đi bụi ở Kyoto tôi có dịp thưởng thức món tào phớ tại một hàng ăn ,sữa đậu nành được đặt trên một nồi thấp chia ra ba ngăn rồi đặt trên bếp nấu sôi ngay tại bàn , mỗi thực khách có một que tre , que tre này dùng để hớt váng đậu nành đóng váng khi sôi , giống như hớt bánh cuốn trong nồi hấp , váng này được cho vào trong một chiếc chén hình như vỏ sò điệp(coquille St. Jacques) trong đó đã có nước sauce , đại loại như nước tương pha chế kiểu Nhật ,dùng với các rau củ được bày biện đẹp mắt ; còn lúc tôi lang thang khu "sun moon lake" tạm gọi là Nhật nguyệt đàm ở Taiwan ,có vào khu chợ nơi đó ,thôi thì đủ loại tàu hũ ,bán ăn tại chỗ , thử một lần món "tàu hũ thúi" mà hay nghe trong các phim tàu Hồng Kông , miếng tàu hũ đặt trong đĩa giấy nhỏ , có rắc tương đen ớt đỏ , bỏ nguyên miếng vào miệng phùng mồm trợ mắt nhai theo phong cách ăn tàu hũ thúi của tàu ,lạ miệng , đương nhiên là có mùi "sầu riêng" nhai kỹ cảm nhận được cái béo, thơm toát ra từ miếng tàu hũ ; nếu chưa đến độ thúi chắc chưa béo , giống như fromage Camembert của Pháp , không thúi là vứt thùng rác ; tàu hũ thúi ở Hồng Kông ngon hơn.
Cũng từ đậu nành , món tào phớ ra đời lúc nào không ai biết, tôi chỉ nghe là xuất xứ từ một làng ngoại ô Hà Nội , đã trở thành nghề chính của người dân nơi đây. Ngày nay, nghề làm và bán tào phớ phổ biến ở khắp nơi. Tuy nhiên, ở mỗi vùng miền, địa phương, tào phớ lại biến hóa khôn lường thành những cái tên khác nhau, cách thưởng thức nhiều khi cũng khác nhau nữa.

Nghe kể lại chỉ cần nghe tiếng rao "Ai Phớoo... đây" là mọi người đều hiểu , họ bước chậm , tiếng rao vang xa. Bát tào phớ trắng ngà, ăn ngọt mát, vị bùi bùi, vừa có hương thơm của đậu tương, vừa có hương thơm nhẹ của hoa nhài vì ở Hà Nội, tào phớ thường được ăn với nước đường pha vừa miệng, ướp hoa nhài tươi. Thú vị là vào những ngày tiết giá , có bát tào phớ nóng hổi trên tay , hương thơm bốc lên , không còn gì bằng.
Vào đến mảnh đất miền Trung, người ta đã gọi tào phớ bằng một cái tên khác là “đậu hủ”, gọi tên khác cách thưởng thức cũng khác, hương vị cũng có chút khác biệt, ăn không chan ngập nước đường như đất bắc mà tùy theo yêu cầu của khách đường trắng được rắc lên nhiều hay ít hoặc là không ;cách đây vài năm có dịp tôi ra Huế , ở khách sạn Thành Nội được thưởng thúc món "đậu hủ" của đất thần kinh và tôi được giải thích như vậy ,lúc vào đến Quảng Nam , Hội An cũng vẫn vậy.
Saigon là nước và tôi là cá mà tôi đã hơn 30 năm ngụp lặn , đã đổi tên tào phớ thành  “tàu hũ” ,bất chợt tôi thấy dân Saigon ý nhị sợ dùng chữ "đậu hủ" lại bị nói lái lại nghe kỳ quá nên gọi là tàu hũ chăng ! so với tào phớ ở miền Bắc và đậu hủ miền Trung, tàu hũ có phần đặc hơn, có thể có cả nước cốt dừa, thường được ăn nóng với nước đường, thêm chút gừng thơm lừng mát cả cuống họng .
Nồi nước đường có màu vàng cánh gián dẻo quẹo cùng những lát gừng xen lẫn trong đó, mới nhìn thôi là đã ứa nước giãi . Tôi thấy ăn được bát tàu hũ ngon là do cách ăn một cách chậm rãi, không hối hả, vội vàng .
Qua đây thiếu những gánh quà quê như tàu hũ , thèm , muốn ăn phải lăn vào bếp thôi , nấu được một nồi cũng không khó , nhưng cần một sự tỉ mỉ cẩn trọng, chỉ cần một chút mắm hay muối rơi vào trong lúc nấu nước đậu thì đậu sẽ không đông và vữa ra ngay , cho dù có bỏ vào cả nắm thạch cao làm chất xúc tác. Có lúc các cửa hàng thực phẩm Á châu có bán hộp bột để làm tàu hũ của Nhật , trong đó có sẵn một gói thạch cao để kết tủa.Nấu sôi khoảng nước 2l nước , đổ bột đậu nành vào quậy cho tan rồi cho gói thạch cao vào ; đậu nành kết tủa lại thành tàu hũ , cho nước  đường có gừng vào là thành tàu hũ đường mà nghe các bà bán ở Saigon rao vang dội đường phố "hũuu...hêu "


loại muỗng các bà bán hàng ở Việt Nam dùng múc tầu hũ(hình internet)


Còn đây là loại muỗng đúng điệu ăn tàu hũ ,mỏng dẹp vừa miệng (hình internet) .

Thỉnh thoảng cũng có nơi đập vào nước đá ăn cho máthoặc thêm vào nước cốt dừa ăn cho béo còn cho thêm chân trâu , thạch , hay hạt sen ,tôi thì không có gu thưởng thức  những biến tấu này , có thể là họ đã bắt chước những hộp tào phớ(chữ của người Tàu) tại các siêu thị ở Đài Bắc hay Hồng Kông bán trong các tủ lạnh.
Tôi thì thấy những điều giản dị thường phổ biến và đi vào lòng người hơn cả, những nét mộc mạc lúc nào cũng gắn bó khó quên được./.
Ara