Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

Lưu Bút Ngày Xanh


Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…
Trong thời còn cắp sách đến trường , không ai không nghe và nhớ lời bài hát Nỗi buồn Hoa Phượng của nhạc sĩ Thanh Sơn và Lê Dinh , ấn hành năm 1966.
Biết bao thi sĩ, nhạc sĩ ghi lại tình cảm của lứa tuổi học sinh trong thời còn mài đủng quần trên ghế nhà trường. Mỗi năm khi hè đến, tiếng ve kêu rộn rã, những cây phượng đỏ thắm trước sân trường; tiếng hát thầy cô và các học sinh trong những ngày cuối năm mang một nỗi buồn khó tả khi ca tặng nhau những bài nhạc với lời chia tay đầy thương cảm. Đặc biệt, nhạc sĩ Thanh Sơn đã để lại trong lòng những ai đến và đi trong lứa tuổi học trò qua những bài hát Nỗi buồn hoa phương và bài “Lưu bút ngày xanh” ấn hành  năm 1964.
Biết bao ca sĩ danh tiếng đã ca bài này nhưng khi Viễn Châu viết bài tân cổ giao duyên thì sức mạnh của bài “Lưu bút ngày xanh” như sóng vỡ bờ.  

Một điều đáng chú ý hơn nữa là cựu giáo sư Sử Địa Trung Học Thủ Thừa, Trần Mỹ Huệ, dù thất thập cổ lai hy cũng ca lại bài Lưu Bút Ngày Xanh để nhớ lại thời cắp sách đến trường và ngậm ngùi thương tiếc cho dĩ vãng.

Hoa Phượng rơi trên lối mònxóm cũ 
N
ắng chiều còn rơi rớt đọng ngàn cây
Nh
ặt hoa tàn không nói được thành câu
Lòng buâng khuâng nu
ối tiếc mộng ban đầu
Hoa còn
đây nhưng bóng dáng anh đâu
Đã khuất dưới nẽo đường mờ xa dịu viễn
Để rồi:
Ngày chia tay Anh cài cành hoa thắm
Nay hoa tàn r
ồi biền biệt bóng Anh đâu
Nh
ững đêm buồn nghe gió lạnh tàn thu
Em tr
ăn trở với đêm dài không ngũ
Và cuối cùng thì:
Người ơi ép cánh hoa tàn
Em vi
ết đôi hàng trong lưu bút ngày xanh!



Lưu Bút Ngày Xanh
Trình bày: Mỹ Huệ

Soạn giả: Thanh Sơn và Viễn Châu

Tân nhạc:
Lòng xao xuyến mỗi khi Hoa Phượng rơi 
Nh
ắc lại câu chuyện buồn
Tr
ường còn kia ôi mái đỗ tường rêu 
Nơi k
ỹ niệm êm ái
Đâu dư âm của tiếng nói ngây thơ
Ngày hai
đứa dìu nhau đến sân trường
Cùng
đuổi bướm hái hoa trên cuối đường
Ti
ếng cười vạn tình thương.
Và thu
ở ấy biết bao nhiêu buồn vui
Gói tr
ọn theo tuổi đời
Tình
đẹp như trang giấy kết vần thơ 
Nh
ư một nụ hoa trắng
Nh
ưng bao nhiêu yêu dấu đã phai mờ
Th
ời gian nỡ vùi chôn tuổi học trò
Ng
ười em gái mến thương vui thuở nào
Bao gi
ờ mình gặp nhau 

Vọng cổ:
1. Anh
ơi! Mái trường xưa chưa phai màu  Phượng thắm
Thì tâm h
ồn em cũng chưa phai những kỹ niệm vui… buồn
Mái
đỗ tường xiu lá rụng quanh tường
Hoa Ph
ượng rơi trên lối mònxóm cũ 
N
ắng chiều còn rơi rớt đọng ngàn cây
Nh
ặt hoa tàn không nói được thành câu
Lòng buâng khuâng nu
ối tiếc mộng ban đầu
Hoa còn
đây nhưng bóng dáng anh đâu
Đã khuất dưới nẽo đường mờ xa dịu viễn
2. Còn đâu dư âm của những lời than thở
Khi hai
đứa dìu nhau đứng lặng trước sân trường
Nh
ững tiếng từ ly nghe nghèn nghẹn ưu buồn
Chia tay nhau không h
ẹn ngày tái ngộ
Nh
ưng dạ vẫn còn se thắt vạn niềm thương
N
ẽo trời xa ai có nhớ ai không
Tình v
ẫn đẹp trong mùa thu ảm đạm
L
ưu bút ngày xanh ghi bằng thơ với lệ
Nh
ớ thương người nơi xứ lạ trời xa….
Lý con sáo:
Đêm chia ly lá đỗ ngập đường Anh đi
Ch
ờ đợi chờ ai đây
 hoa Phượng rơi trước gió tơi bời
Nh
ưng mộng thắm tan rồi
mà chiều tàn còn vương theo bóng mây
S
ương hắt hiu theo gió bay trên ngàn cây
Ng
ười xa rồi còn tôi ở đây 
Trông lá r
ơi thêm nhớ thương người đi

5. Ng
ười ơi không biết tôi còn viết chi những dòng lưu bút Khi ngày xanh đã chết lịm ở tim…. sầu
Cho n
ăm tháng qua mau mái tóc đã phai màu
Ngày chia tay Anh cài cành hoa th
ắm
Nay hoa tàn r
ồi biền biệt bóng Anh đâu
Nh
ững đêm buồn nghe gió lạnh tàn thu
Em tr
ăn trở với đêm dài không ngũ
Khép m
ảnh tâm tư theo ngày xanh mòn mỏi
Khi bóng ng
ười đi vời vợi biết đâu tìm.
Tân nh
ạc:
Người ơi nhắc đến chi kỹ niệm xưa khiến lòng tôi buồn buồn
Ngày bi
ệt ly hai đứa đứng nhìn nhau Anh cài cành hoa tím
Hoa x
ưa đây nhưng bóng dáng em đâu 
Lòng nh
ật ký đã ghi nốt tâm tình
Và
đôi lúc nhớ nhau lưu bút còn kể lại chuyện buồn vui
6. Nhật ký vài trang ghi mấy dòng tâm sự
Em g
ửi vào đây với vạn chữ mong chờ
Anh
ơi hoa còn đây nhưng bóng dáng Anh đâu
Ngàn hoa Ph
ượng vẫn tơi bời trước gió
Ng
ười ơi ép cánh hoa tàn
Em vi
ết đôi hàng trong lưu bút ngày xanh!






Virginia ngày 1 tháng 6 năm 2018

Trần-Văn Phét

Lời cuối cùng

Ngày 5 tháng 2 năm 1936, báo Hà nội số 5 có đăng bài thơ của Thanh Tịnh, phỏng theo bài thơ Pháp Et s'il revenait un jour  của Maurice Maeterlinck viết năm 1896.
Nói đến Thanh Tịnh ai cũng nghĩ đến văn xuôi, bài Tôi đi học, chứ không ai biết đến thơ của Thanh Tịnh .  Ngược với Đinh Hùng, ai cũng biết nhiều bài thơ của Đinh Hùng nhưng không ai nghĩ đến bài văn xuôi "Cảm Thu" của ông ta.

Lời cuối cùng

Et s'il revenait un jour

Rồi một hôm, nếu về, cha hỏi:
Mẹ ở đâu? con biết nói sao?
Con hãy bảo: trông cha mòn mỏi
Mẹ từ trần sau mấy tháng đau.

Nếu cha hỏi sao nhà vắng vẻ?
Mẹ khuyên con hãy trả lời sao?
Con lặng chỉ bình hương khói rẽ.
Và trên giường chỉ đĩa dầu hao!

Nếu cha hỏi cặp đào trước ngõ
Sao chỉ còn một gốc ngả nghiêng?
Con sẽ chỉ một cây đào nhỏ
Bên cây tùng, rồi đứng lặng yên.

Còn mồ mẹ, nếu cha muốn biết,
Phải hướng nào, con nói cùng cha?
Con lặng chỉ bầu trời xanh biếc
Và bên trời chỉ nội cỏ xa!


Thanh Tịnh
Hà nội báo số 5
5 tháng 2 năm 1936

Et s’il revenait un jour
Que faut-il lui dire ?
— Dites-lui qu’on l’attendit
Jusqu’à s’en mourir...

Et s’il m’interroge encore
Sans me reconnaître ?
— Parlez-lui comme une sœur,
Il souffre peut-être...

Et s’il demande où vous êtes
Que faut-il répondre ?
— Donnez-lui mon anneau d’or
Sans rien lui répondre...

Et s’il veut savoir pourquoi
La salle est déserte ?
— Montrez-lui la lampe éteinte
Et la porte ouverte...

Et s’il m’interroge alors
Sur la dernière heure ?
— Dites-lui que j’ai souri
De peur qu’il ne pleure...

1896
Maurice Maeterlinck

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018

12 bến nước

Ngày 14 tháng 4 năm 2018,  một bạn học ban Sử Địa có gởi cho bài vọng cổ "Con Gái Của Mẹ" . Bài hát nói lên lời Mẹ dạy con khi về làm dâu thiên hạ. Trong bài có nhắc đến 12 bến nước: bến đục bến trong .





Nguồn video: https://www.youtube.com/watch?v=OxDePu7iuMI




Lênh đênh một chiếc thuyền tình

Mười hai bến nước đưa mình về đâu


Không ai biết rõ 12 bến nước là gì. Tuy nhiên có 3 giả thuyết có thể tạm chấp nhận:
    

1.  12 địa vị người đàn ông trong xã hội thờì phong kiến:  ngư, tiều, canh, mục, sĩ ,nông,công, thương, nho, y, lý, bóc.

漁  Ngư : đánh cá
樵 Tiều: đốn củi
耕 Canh: cày cấy
牧 Mục: chăn nuôi
仕  Sĩ: Làm quan: 公 Công ,  侯 Hầu, 卿 Khanh, 相 Tướng
農 Nông: Làm ruộng, trồng trọt
工 Công: làm thợ 
商 Thương: buôn bán
儒 Nho: thầy giáo
醫 Y: thầy thuốc
理 Lý: thầy địa lý
卜 Bốc: thầy bói
·     2. 12 con giáp :
Tý, Sửu ,Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. 

·       3.  12 nguyên nhân của thuyết thập nhị nhân duyên của Phật giáo:

          vô minh : không sáng suốt
hành : hành động
thức : ý thức
danh sắc : danh và hình tướng
          lục nhập: nội nhập gồm  nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; ngoại nhập gồm sắc, thi, hương, vị, xúc . Trong Phật học quyển Niết bàn 23 có giải thích ngoại nhập là 6 thằng giặc (lục tặc); nội nhập là không tụ lạc (xóm nhà trống không, chẳng có người ở, chẳng có đồ ăn uống, chẳng có tiền của)
xúc : tiếp xúc
thụ : cảm giác
ái : yêu mến
thủ : nắm giữ lấy
hữu: trở thành
sinh : sinh ra đời
lão tử : già và chết

Trong Phật học, Tâm Minh Lê Đình Thám giải thích như sau:

1. Vô minh: Vô minh là không sáng suốt, là mề lầm, không nhận được bản tính duyên khởi chân thật. Do vô minh, nên không biết tất cả sự vật, dầu thân, dầu cảnh, dầu sinh, dầu diệt, dầu năng, dầu sở, dầu có, dầu không, đều do nhân duyên hội họp mà giả dối sinh ra, do nhân duyên tan rã mà giả dối mất đi, đều theo nhân duyên mà chuyển biến như huyễn, như hóa, không có thật thể. Chính vì không biết như thế, nên lầm nhận thật có cái ta, thật có cái thân, thật có hoàn cảnh, rồi do sự đối đãi giữa thân tâm và cảnh giới, phát khởi ra những tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng.

2. Hành: Hành, chính là cái tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng ấy, nó làm cho chúng sanhnhận lầm có cái tâm riêng, cái ta riêng của mình, chủ trương gây các nghiệp, rồi về sau chịu quả báo.

3. Thức: Tâm niệm sinh diệt tiếp tục ấy, theo nghiệp báo duyên ra cái thức tâm của mỗi đời, chịu cái thân và cái cảnh của loài này hoặc loài khác.

4. Danh sắc: Các thức theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc. Sắc, bao gồm những cái có hình tướng, như thân và cảnh; Danh, bao gồm nhwnxgc ái không có hình tướng, như cái sự hay biết, nói một cách khác, là thức tâm thuộc nghiệp nào, thì hiện ra thâm tâm và cảnh giới của nghiệp ấy.

5. Lục nhập: Thân tâm đối với cảnh giới thì duyên khởi ra các sự lãnh nạp nơi 6 giác quan, nhãn căn lãnh nạp sắc trần, nhĩ căn lãnh nạp thanh trần, tỷ căn lãnh nạp hương trần, thiệt căn lãnh nạp vị trần, thân căn lãnh nạp xúc trần và ý căn lãnh nạp pháp trần.

6. Xúc: Do những lãnh nạp như thế, mà các trần ảnh hưởng đến tâm hay biết sinh ra quan hệ với nhau, nên gọi là xúc.

7. Thọ: Do những quan hệ giữa tâm và cảnh như thế, nên sinh ra các thọ là khổ thọ, lạc thọ, hỷ thọ, ưu thọ và xả thọ.

8. Ái: Do các thọ đó, mà sinh lòng ưa ghét, đối với lạc thọ, hỷ thọ thì ưa, đối với khổ thọ, ưu thọ thì ghét và đã có ưa ghét thì tâm gắn bó với thân, với cảnh, hơn bao giờ hết.

9. Thủ: Do tâm gắn bó với thân, với cảnh nên không thấy được sự thật như huyễn, như hóa, mà còn kết hợp được những ảnh tượng rời rạc đã nhận được nơi hiện tại, thành những sự tướng có định, rồi từ đó chấp mọi sự vật đều có thật, sự chấp trước như thế, gọi là thủ.

10. Hữu: Do tâm chấp trước, nên những sự vật như huyễn như hóa lại biến thành thật có, có thân, có cảnh, có người, có ta, có gây nghiệp, có chịu báo, có sống và có chết, cái có như thế, tức là hữu.

11. Sinh: Có sống, tức là có sinh, nói một cách khác, là do không rõ đạo lý duyên khởi như huyễn, không có tự tánh, nên nhận lầm thật có sinh sống.

12. Lão tử: Lão tử là già rồi chết. Do có sinh sống, nên có già, rồi có chết.

Virginia
Ngày của Mẹ , 13 tháng 5  năm 2018
Trần –Lâm Phát