Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

10 phím tắt thông dụng trên máy tính

Ban biên tập nhận được 1 bài sưu tập về các cách xử dụng các phím trên máy tính ,rất đơn giản và hửu ích,chúng ta cùng xem và thực hành nha

Với những phím tắt hữu ích này, bạn có thể làm được mọi việc rất nhanh mà gần như không cần phải sử dụng đến chuột.

Bill Gates từng tuyên bố rằng tổ hợp phím Ctrl + Alt + Del là một sai lầm, nhưng tổ hợp phím tắt này đã nhanh chóng trở thành một "ngôi sao" trong cộng đồng công nghệ. Bên cạnh Ctrl + Alt + Del, trên Windows và Mac còn có 10 tổ hợp phím khá hữu dụng mà không phải ai cũng biết.



1. Đóng cửa sổ chương trình ngay lập tức

Nếu sếp của bạn đột ngột đi về phía bạn khi bạn đang lướt Facebook, hoặc khi bạn bị bắt gặp trong lúc đang làm những công việc nhạy cảm trên máy tính, bạn có thể đóng cửa sổ ngay lập tức bằng tổ hợp phím sau:
Với máy tính chạy hệ điều hành Windows: Alt + F4
Với máy tính chạy hệ điều hành Mac: phím Apple + Q
Ngoài ra, tổ hợp phím Ctrl + W cũng có thể đóng tab hiện thời của trình duyệt và cửa sổ Windows Explorer đang mở.

2. Ẩn toàn bộ chương trình và trở về màn hình Desktop

Nếu bạn đang có quá nhiều cửa sổ trên màn hình và muốn truy cập ngay lập tức vào màn hình desktop, hãy sử dụng tổ hợp phím sau:
Với máy tính chạy hệ điều hành Windows : phím Windows + D
Với máy tính chạy hệ điều hành Mac: F11

3. Thêm dấu trang (bookmark)

Bạn có thể thêm dấu trang tới trang web ưa thích một cách nhanh chóng bằng cách nhấn sau:
Với máy tính chạy hệ điều hành Windows: Ctrl + D
Với máy tính chạy hệ điều hành Mac: phím Apple + D

4. Xóa vĩnh viễn

Khi bạn chắc chắn muốn xóa hoàn toàn một file hoặc thư mục nào đó (thay vì gửi file này tới thùng rác), hãy sử dụng cụm phím Shift + Delete trên Windows.

5. Phóng to/thu nhỏ nội dung

Khi bạn đang lướt web hoặc đang soạn thảo văn bản, có một cách rất dễ dàng để phóng to/thu nhỏ văn bản đang được hiển thị bằng cách nhấn các tổ hợp phím sau:
Với máy tính chạy hệ điều hành Windows: nhấn Ctrl + cuộn chuột giữa lên (phóng to) hoặc xuống (thu nhỏ)
Với máy tính chạy hệ điều hành Mac: phím Apple + biểu tượng dấu cộng (+) để phóng to; phím Apple + biểu tượng dấu trừ (-) để thu nhỏ.

6. Mở tab vừa đóng trên trình duyệt

Bạn đã từng vô tình đóng tab trên trình duyệt và không muốn mất thời gian xem mục lịch sử web (history) để mở lại tab này? Bạn có thể sử dụng cụm phím sau:
Với máy tính chạy hệ điều hành Windows: Ctrl + Shift + T
Với máy tính chạy hệ điều hành Mac: phím Apple + Z

7. Trở về địa chỉ cũ trên trình duyệt

Cả Windows và Mac đều cung cấp những cách rất dễ dàng để trở lại trang web mà bạn vừa duyệt trước đó:
Với máy tính chạy hệ điều hành Windows: nhấn nút Backspace (←)
Với máy tính chạy hệ điều hành Mac: phím Apple + [

8. Vào thanh địa chỉ

Nhờ tổ hợp phím sau đây, bạn có thể nhanh chóng vào ô địa chỉ mà không cần tới chuột:
Với máy tính chạy hệ điều hành Windows: Ctrl + L; F6 hoặc Alt + D.
Với máy tính chạy hệ điều hành Mac: phím Apple + L
Ngoài ra, trên Windows Explorer, nhấn Alt + D hoặc F4 cũng sẽ đưa bạn tới thanh địa chỉ. Nhấn F3 sẽ đưa bạn tới ô tìm kiếm.
 

9. Thêm nhanh "http://www" và ".com" vào thanh địa chỉ trên trình duyệt

Khi muốn vào Google, bạn chỉ cần gõ "google" lên ô địa chỉ và sử dụng cụm các cụm phím sau:
Với máy tính chạy hệ điều hành Windows: Ctrl + Enter
Với máy tính chạy hệ điều hành Mac: phím Apple + Enter
Bằng cách này "google" sẽ được tự động chuyển thành "http://www.google.com". Các trang web khác cũng tương tự như vậy.

10. Mở tab mới trên trình duyệt

Khi muốn mở tab mới trên trình duyệt, bạn chỉ cần nhấn tổ hợp phím Ctrl + T.
Để kích hoạt chế độ ẩn danh trên Chrome, hãy nhấn Ctrl + Shift + N. Trên Firefox, hãy nhấn Ctrl + Shift + P.
Khi muốn mở đường dẫn sang một tab mới, thay vì tải trực tiếp lên tab bạn đang xem, hãy click phím chuột giữa (nút cuộn) lên đường dẫn này.

Sau đây là phiên bản Anh ngữ:

Windows system key combinations
·         F1: Help
·         CTRL+ESC: Open Start menu
·         ALT+TAB: Switch between open programs
·         ALT+F4: Quit program
·         SHIFT+DELETE: Delete item permanently
·         Windows Logo+L: Lock the computer (without using CTRL+ALT+DELETE)
Windows program key combinations
·         CTRL+C: Copy
·         CTRL+X: Cut
·         CTRL+V: Paste
·         CTRL+Z: Undo
·         CTRL+B: Bold
·         CTRL+U: Underline
·         CTRL+I: Italic
Mouse click/keyboard modifier combinations for shell objects
·         SHIFT+right click: Displays a shortcut menu containing alternative commands
·         SHIFT+double click: Runs the alternate default command (the second item on the menu)
·         ALT+double click: Displays properties
·         SHIFT+DELETE: Deletes an item immediately without placing it in the Recycle Bin
General keyboard-only commands
·         F1: Starts Windows Help
·         F10: Activates menu bar options
·         SHIFT+F10 Opens a shortcut menu for the selected item (this is the same as right-clicking an object
·         CTRL+ESC: Opens the Start menu (use the ARROW keys to select an item)
·         CTRL+ESC or ESC: Selects the Start button (press TAB to select the taskbar, or press SHIFT+F10 for a context menu)
·         CTRL+SHIFT+ESC: Opens Windows Task Manager
·         ALT+DOWN ARROW: Opens a drop-down list box
·         ALT+TAB: Switch to another running program (hold down the ALT key and then press the TAB key to view the task-switching window)
·         SHIFT: Press and hold down the SHIFT key while you insert a CD-ROM to bypass the automatic-run feature
·         ALT+SPACE: Displays the main window's System menu (from the System menu, you can restore, move, resize, minimize, maximize, or close the window)
·         ALT+- (ALT+hyphen): Displays the Multiple Document Interface (MDI) child window's System menu (from the MDI child window's System menu, you can restore, move, resize, minimize, maximize, or close the child window)
·         CTRL+TAB: Switch to the next child window of a Multiple Document Interface (MDI) program
·         ALT+underlined letter in menu: Opens the menu
·         ALT+F4: Closes the current window
·         CTRL+F4: Closes the current Multiple Document Interface (MDI) window
·         ALT+F6: Switch between multiple windows in the same program (for example, when the Notepad Find dialog box is displayed, ALT+F6 switches between the Find dialog box and the main Notepad window)
Shell objects and general folder/Windows Explorer shortcuts
For a selected object:
·         F2: Rename object
·         F3: Find all files
·         CTRL+X: Cut
·         CTRL+C: Copy
·         CTRL+V: Paste
·         SHIFT+DELETE: Delete selection immediately, without moving the item to the Recycle Bin
·         ALT+ENTER: Open the properties for the selected object
To copy a file
Press and hold down the CTRL key while you drag the file to another folder.
To create a shortcut
Press and hold down CTRL+SHIFT while you drag a file to the desktop or a folder.
General folder/shortcut control
·         F4: Selects the Go To A Different Folder box and moves down the entries in the box (if the toolbar is active in Windows Explorer)
·         F5: Refreshes the current window.
·         F6: Moves among panes in Windows Explorer
·         CTRL+G: Opens the Go To Folder tool (in Windows 95 Windows Explorer only)
·         CTRL+Z: Undo the last command
·         CTRL+A: Select all the items in the current window
·         BACKSPACE: Switch to the parent folder
·         SHIFT+click+Close button: For folders, close the current folder plus all parent folders
Windows Explorer tree control
·         Numeric Keypad *: Expands everything under the current selection
·         Numeric Keypad +: Expands the current selection
·         Numeric Keypad -: Collapses the current selection.
·         RIGHT ARROW: Expands the current selection if it is not expanded, otherwise goes to the first child
·         LEFT ARROW: Collapses the current selection if it is expanded, otherwise goes to the parent
Properties control
·         CTRL+TAB/CTRL+SHIFT+TAB: Move through the property tabs
Accessibility shortcuts
·         Press SHIFT five times: Toggles StickyKeys on and off
·         Press down and hold the right SHIFT key for eight seconds: Toggles FilterKeys on and off
·         Press down and hold the NUM LOCK key for five seconds: Toggles ToggleKeys on and off
·         Left ALT+left SHIFT+NUM LOCK: Toggles MouseKeys on and off
·         Left ALT+left SHIFT+PRINT SCREEN: Toggles high contrast on and off
Microsoft Natural Keyboard keys
·         Windows Logo: Start menu
·         Windows Logo+R: Run dialog box
·         Windows Logo+M: Minimize all
·         SHIFT+Windows Logo+M: Undo minimize all
·         Windows Logo+F1: Help
·         Windows Logo+E: Windows Explorer
·         Windows Logo+F: Find files or folders
·         Windows Logo+D: Minimizes all open windows and displays the desktop
·         CTRL+Windows Logo+F: Find computer
·         CTRL+Windows Logo+TAB: Moves focus from Start, to the Quick Launch toolbar, to the system tray (use RIGHT ARROW or LEFT ARROW to move focus to items on the Quick Launch toolbar and the system tray)
·         Windows Logo+TAB: Cycle through taskbar buttons
·         Windows Logo+Break: System Properties dialog box
·         Application key: Displays a shortcut menu for the selected item
Microsoft Natural Keyboard with IntelliType software installed
·         Windows Logo+L: Log off Windows
·         Windows Logo+P: Starts Print Manager
·         Windows Logo+C: Opens Control Panel
·         Windows Logo+V: Starts Clipboard
·         Windows Logo+K: Opens Keyboard Properties dialog box
·         Windows Logo+I: Opens Mouse Properties dialog box
·         Windows Logo+A: Starts Accessibility Options (if installed)
·         Windows Logo+SPACEBAR: Displays the list of Microsoft IntelliType shortcut keys
·         Windows Logo+S: Toggles CAPS LOCK on and off
Dialog box keyboard commands
·         TAB: Move to the next control in the dialog box
·         SHIFT+TAB: Move to the previous control in the dialog box
·         SPACEBAR: If the current control is a button, this clicks the button. If the current control is a check box, this toggles the check box. If the current control is an option, this selects the option.
·         ENTER: Equivalent to clicking the selected button (the button with the outline)
·         ESC: Equivalent to clicking the Cancel button

·         ALT+underlined letter in dialog box item: Move to the corresponding item

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Bên trong biến cố nóng chảy nguyên tử tại Nhật Bản

Xin mời quý đọc giả nhấn chuột (Click) link sau đây để vào youtube.

1. Phim diễn giải bằng tiếng Việt bị chận vì vi phạm bản quyền
http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=WNQMowonXxY
Xin cáo lỗi với quí đọc giả.

2. Phim nói tiếng Anh:



Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

Nhà máy diện nguyên tử ở tiểu bang Virginia, Hoa kỳ


Việt nam trên đà phát triển nhà máy điện nguyên tử. Ban biên tập giới thiệu đến quí vị bài viết của cựu gs Trần-Văn Phét vài khái niệm về nhà máy điện nguyên tử ở tiểu bang Virginia, USA.

Dưới đây là video ghi lại 1 số hình ảnh khi nhà điện nguyên tử số 2 ở North Anna thay đầu máy trong lò nguyên tử vào  ngày 2 tháng 10 năm 2002 và hoàn tất vào ngày 31 tháng 1 năm 2003.


Tiểu bang Virginia có hai nhà máy điện nguyên tử: nhà máy Surry ở phía Đông và nhà máy North Anna ở phía Tây thủ đô Richmond. Mỗi nhà máy có 2 dơn vị riêng biệt. Nhà máy trực thuộc công ty tư nhân Dominion và mỗi nhà máy điện nguyên tử này có khoảng 1 ngàn nhân viên (Dominion có tất cả khoảng 15 ngàn 500 nhân viên  làm việc cho nhà máy thuỷ điện, nhà máy chạy bằng than, nhà máy chạy bằng gas và nhà máy điện nguyên tử. Bên cạnh Virginia, Dominon còn có nhà máy nguyên tử ở tiểu bang Connecticut và tiểu bang Wisconsin. Nhà máy ở Wisconsin là 1 trong những nhà máy hạng nhứt ở Mỹ nhưng đã đóng cửa vì lỗ quá nhiều.)
Nhà máy Surry là nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của tiểu bang Virginia, nó sản xuất 1.676 Megawatts và đủ sức cung cấp cho 420 ngàn căn nhà . Đơn vị số 1 bắt đầu cung cấp điện vào tháng 12 năm 1972 và đơn vị số 2 bắt đầu hoạt động vào tháng 5 năm 1973. Giấy phép hoạt động hết hạn vào ngày 25 tháng 5 năm 2032 cho đơn vị 1 và ngày 19 tháng 1 năm 2033 cho đơn vị số 2.
Nhà máy North Anna là nhà máy điện nguyên tử thứ nhì của tiểu bang Virginia, nó sản xuất 1.892 Megawatts và đủ sức cung cấp cho 450 ngàn căn nhà . Đơn vị số 1 bắt đầu cung cấp điện vào tháng 6 năm 1978 và đơn vị số 2 bắt đầu hoạt động vào tháng 12 năm 1980. Giấy phép hoạt động hết hạn vào ngày 1 tháng 4 năm 2038 cho đơn vị 1 và ngày 21 tháng 8 năm 2040 cho đơn vị số 2.

Simulator của Surry được NRC (Nuclear Regulatory Commission ), cơ quan điều hành nhà máy điện nguyên tử ở Mỹ, chứng nhận lần đầu tiên vào ngày 23 tháng 11 năm 1988.
Simulator của North Anna được NRC chứng nhận lần đầu tiên vào ngày 13 tháng 9 năm 1988.
Nhà máy điện nguyên tử sản xuất điện cũng giống như những nhà máy chạy bằng thủy điện, chạy bằng than hay chạy bằng gas; nó chỉ khác với các nhà máy chạy bằng thủy điện, chạy bằng than hay chạy bằng gas là nguồn tạo ra nhiệt để làm nóng hơi nước.  Nhà máy sản xuất hơi nước nóng (steam) để quay máy phát điện (turbine generator) và tạo ra điện. Nhà máy điện nguyên tử dùng nhiệt do sự phân tách nguyên tử uranium. Quá trình này gọi là phản ứng phân hạch hạt nhân (nuclear fission). Trung tâm của nhà máy điện nguyên tử là lõi lò phản ứng (reactor core), nơi nhiệt được tạo ra bởi các phân hạch nhiên liệu uranium dưới sự kiểm soát và vận hành của nhân viên điều khiển nhà máy.

Nhà máy điện nguyên tử của Dominion thuộc loại dùng áp suất của nước (PWR : pressurized water reactor).


Máy bơm làm nguội lò phản ứng, bơm nước cao áp suất qua lò phản ứng. Lượng nước này được kiềm chế dưới áp suất nên nước không bao giờ sôi. Sau khi được nung nóng, nước được đưa vào bộ phận sản xuất hơi nước (steam generator).  Sau khi nhận sức nóng trong lò phản ứng, nước chạy qua bộ phận sản suất hơi nước. Nơi đây lượng nước nóng chạy qua hàng dãy ống, chuyển năng lượng của nó qua bức tuờng bằng những ống kim loại vào hệ thống thứ nhì (secondary system) của nguồn nước và biến thành hơi nước với áp suất cao. Nước trong hệ thống làm nguội lò phản ứng không bao giờ tiếp xúc với nguồn nước thuộc hệ thống thứ nhì. Hơi nước được dẫn tới tua bin (turbine) và lực đẩy của hơi nước làm cho cánh quạt quay và máy phát điện tạo ra điện. Khi làm cho cánh quạt quay, hơi nước mất sức nóng và áp suất, nó chạm với những ống có nước lạnh của nơi ngưng tụ (condenser). Bấy giờ hơi nước rơi xuống nơi ngưng tụ và được bơm trở lại cho máy tạo hơi nước và cứ thế tiếp tục chu kỳ vòng tròn. Nước trong lò phản ứng cũng được bơm liên tục và nó không bao giờ va chạm với nước làm nguội lò phản ứng.

A: Containment: Lò nguyên tử của nhà máy
B: Control Rods:Thanh điều khiển độ phản ứng chất uranium
C: Reactor: Lò phản ứng
D: Steam generator: Máy phát hơi nước
E: Steam line: Ống dẫn hơi nước
F: Reactor cooling Pump: Máy bơm làm nguội lò phản ứng
G: Main generator:Máp phát điện chính
H: Turbine: tua bin
I: Condenser: Nơi ngưng tụ
J: Lake, river or ocean: Hồ, sông hay biển

Cứ 18 tháng nhà máy phải bảo trì, sửa chửa những máy móc hư hỏng không sửa được trong lúc nhà máy đang phát điện và thay thế chất uranium ở vòng trong lò phản ứng. Vòng ngoài được thay chất uranium mới và chất uranium ở vòng ngoài đưa vào vòng trong. Vòng trong được gở ra và cẩn thận bảo quản, không để chất phóng xạ lan ra ngoài. Thời hạn bảo trì trên dưới 30 ngày và phí tổn khoảng 33 triệu đô la. Tháng 10 năm 2013 nhà máy Surry đã bảo trì đơn vị số 1. Tháng 9 năm 2013 nhà máy  ở North Anna đã bảo trì đơn vị số1. Trong thời gian bảo trì, nhân viên không được nghỉ phép, 1 số nhân viên chuyên môn của nhà máy này sang nhà máy kia phụ giúp và công ty mướn hàng trăm nhân viên ở ngoài vào phụ giúp. Đặc biệt Simulator, nhân viên rất vất vả  trong 2 tuần lễ đầu trong thời gian bảo trì. Hardware Engineer phải thay thế, lắp ráp những dụng cụ mới. Sau đó Software Engineer kiểm tra những phần mềm (codes) họ viết và Simulator Operator thử nghiệm lần cuối, tu chỉnh phần mềm nếu cần trước khi bàn giao cho huấn luyện viên (Instructors). Nhóm Simulator làm việc ăn khớp với nhau và nối kết như mắc xích. Tuy có 4 người nhưng nhóm Simulator hoàn tất những gì thay đổi trong nhà máy phát điện trong thời gian ngắn.

Simulator control room là chị em sanh đôi với control room của nhà máy điện nguyên tử. Tất cả dụng cụ (instrunentation), computers, bàn ghế, thảm, phone, máy in, dây nối mạng (network) đều giống nhau như đúc. Simulator dùng computer điều khiển phản ứng. Simulator là dụng cụ dùng để đào tạo và huấn luyện nhân viên điều khiển nhà máy theo luật của liên bang Mỹ. Hàng năm Hardware Engineer chụp khoảng 1 ngàn tấm hình trong nhà máy điện nguyên tử rồi so sánh với Simulator để tìm ra sự khác biệt. Theo luật liên bang thì Simulator phải khắc phục những khác biệt cho giống nhà máy trong vòng 18 tháng nhưng Dominion chỉ cho phép trong vòng 12 tháng và Hardware Engineer thường hòan tất trong vòng 6 tháng. Ba tháng đầu năm là chuỗi ngày vất vả nhất của Hardware Engineer. Hardware Engineer nghiên cứu và thử nghiệm operating system (OS) của Microsoft trước khi bàn giao cho Software Engineer. Ngoài ra Hardware Engineer phải tự sáng chế (design) và lắp ráp (integrate) những mạch điện tử nếu không mua được ở ngoài. Hơn nữa, Hardware Engineer là người kiểm tra ngân sách, tìm kiếm, đấu thầu, mua sắm thiết bị sửa chửa cho Simulator. Hardware Engineer phải am tường về hệ thống truyền tin (communication), instrumentation, điện, điện tử, audio, video, computers và network. Software Engineer là người am tường về cấu trúc và sự hoạt động của từng bộ phận của nhà máy điện nguyên tử. Dựa vào những bản vẽ của nhà máy họ viết những codes (phần mềm) làm cho Simulator hoạt động như nhà máy thiệt. Simulator operator là người phải có bằng (license) điều khiển nhà máy. Người này biết cách điều họp giữa hardware và software để kiểm tra phần mềm. Hàng năm, Simulator operator phải kiểm chứng Simulator dựa theo những đòi hỏi bắt buộc của ANSI/ANS3.5 (Tiêu chuẩn quốc gia của Simulator nhà máy điện nguyên tử để đào tạo và huấn luyện)  

Những từ viết tắt trong bài này:
NLO: non license operator: người làm việc phụ giúp người điều khiển nhà máy, không có bằng điều khiển (reactor operator license)
RO: Reactor operator: người điều khiển nhà máy có bằng điều khiển (reactor operator license)
SRO: Senior Reactor Operator: Cấp chỉ huy có bằng Senior Reactor operator

Nhân viên điều khiển nhà máy phải qua 1 quá trình huấn luyện lâu dài (39 tháng cho NLO + 18 tháng cho RO + 8 tháng cho SRO). Khi được tuyển dụng, họ phải qua khoá đào tạo không có bằng điều khiển 6 tuần; sau đó họ làm việc dưới quyền người có bằng điều khiển (Operator license) và tiếp tục vừa học vừa làm 39 tháng qua 7 kỳ thi. Sau khi hòan tất chương trình cho NLO, những người NLO giỏi được tuyển cho đi học để thi lấy bằng điều khiển (license). Thời gian đào tạo cho license operator là 18 tháng. Họ chỉ ăn và đi học. Tuy nhiên họ được trả lương như lúc làm việc. Ngày họ thi lấy bằng, họ không được tiếp xúc với những người có liên quan đến việc thi, họ không được dùng điện thoại trong vòng 24 giờ sau khi ra khỏi phòng thi. Họ bị kiểm tra rất chặt chẽ trong thời gian thi. Thời hạn thi khoảng 4 hay 5 ngày. Nếu thi đậu họ được NRC cấp bằng Reactor Operator gọt tắt là RO. Sau khi có bằng license operator 1 thời gian dài, họ được tuyển để đi học lấy bằng SRO. SRO là người có quyền điều khiển nhân viên RO, NLO. Họ quyết dịnh vân mệnh của nhà máy điện nguyên tử.
Sau 4 tuần làm việc trong nhà máy, NLO, RO, SRO phải trở lại Simulator để huấn luyện thêm 1 tuần và thi vào ngày thứ 6. Cuối năm họ phải thi kiểm tra chất lượng. Nếu thi rớt sẽ được kèm và cho thi lại. Trong suốt sự nghiệp, tất cả nhân viên làm việc cho hệ thống nhà máy điện nguyên tử (Nuclear employee) chỉ được thi lại 3 lần khi rớt, rớt lần thứ 3 là bị sa thải. Thí dụ: nhân viên thi rớt năm thứ 1, thi lại đậu; rớt năm 10, thi lại rớt lần 1 và thi đậu lần 2 và rớt năm 30. Năm thứ 30 sẽ bị sa thải.

Tất cả nhân viên làm việc cho nhà máy điện nguyên tử đều được kiểm tra lý lịch bởi FBI . Nhân viên vi phạm luật pháp, dính líu với chất nổ, ma tuý, rượu đều bị nghiêm trị và sa thải. Nhân viên bị khám phá có chất cồn trong người lần đầu tiên bị cho nghỉ việc 14 ngày và phải điều trị. Tái phạm lần thứ 2 sẽ bị cấm đến nơi nhà máy nguyên tử trong vòng 5 năm.  Độ cồn cho phép là 0,04 % tức là 4/10000 trong khi luật lái xe ở Virginia cho phép là 0,08% (8/10000). Nhân viên phải có 5 tiếng đồng hồ nghỉ ngơi sau khi uống ly rượu lần cuối trước khi đến văn phòng. Khi ở nhà và bị gọi đi làm, nhân viên có trách nhiệm báo cho sở đã uống rượu; đến nơi họ phải được kiểm tra nồng độ cồn trước khi được giao cho công việc. Nhân viên cấp chỉ huy (supervisor) và bảo vệ (security officer) bị sa thải khi vi phạm lần đầu tiên. Theo luật liên bang, nhân viên mang ma túy, rượu, chất nổ vào trong nhà máy sẽ bị cấm lai vãng đến khu nhà máy 10 năm. Nhân viên bị gọi kiểm tra ma túy, nồng độ rượu bât cứ lúc nào (random testing) trong lúc làm việc; nếu từ chối kiêm tra, sẽ bị sa thải. Ai cố tình xâm nhập trái phép hoặc làm hư hại nhà máy điện nguyên tử sẽ bị trừng phạt theo luật liên bang : phạt tù và phạt tiền. Nhân viên phải đeo thẻ nhân viên khi đến sở làm. Có nhân viên chỉ có quyền di chuyển và làm việc ở khu ngoài nhà máy phát điện; họ mang loại thẻ gọi là OCA (Owner Controller Area). Có nhân viên mang thẻ nhân viên điện nguyên tử (Nuclear Employee), những người này được phép ra vào khu vực cho phép trong nhà máy và ở ngoài nhà máy. Hàng năm tất cả nhân viên được phép ra vào nhà máy (Nuclear employee) phải thi kiểm tra về luật liên bang và kiến thức an toàn khi làm việc (Plant Access Training).

Nhà máy điện nguyên tử và Simulator được khảo sát chu kỳ 2 năm bởi NRC và INPO (Institute of Nuclear Power Operation). Nếu họ tìm ra sai sót hay khuyết điểm, công ty phải có biện pháp sửa sai trong hạn kỳ ấn định. Sai sót tái phạm sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Surry và North Anna được hạng INPO #1 năm 2013.

Trước khi khánh thành nhà máy điện nguyên tử, Simulator phải được hoàn chỉnh và đào tạo nhân viên điều khiển nhà máy điện nguyên tử. Simulator là trái tim của nhà máy điện nguyên tử. Không có Simulator, nhà máy điện nguyên tử không thể tồn tại.

Sau đây là những websites tiếng Anh nói ở trên:
NRC (Nuclear Regulatory Commission ): http://www.nrc.gov/
INPO (Institute of Nuclear Power Operation): http://www.inpo.info/
ANSI/ANS3.5 ( American National Standards Institute):  https://canteach.candu.org/Content%20Library/20044503.pdf
NRC kiểm tra IP71111.11 http://pbadupws.nrc.gov/docs/ML1132/ML113270192.pdf

Nhà máy điện nguyên tử ở Surry

Nhà máy điện nguyên tử ở North Anna
1 cựu gs Đất đỏ làm việc trong Simulator ở Surry

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây

Ông Nguyễn Duy Cần, cựu giáo sư Đại học Văn khoa Sài gòn, khi dạy về triết lý Đông phương và Tây phương đã nói " Đông là Đông, Tây là Tây; Đông và Tây không bao giờ gặp nhau". Ban biên tập xin giới thiệu đến quí vị sự nhận xét của Yang Liu hiện định cư ở Đức.

Bộ ảnh thú vị về sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây
(Dân trí) - Phương Đông và phương Tây vốn luôn chứa đựng nhiều quan niệm khác biệt. Bộ ảnh đồ họa dưới đây sẽ đề cập tới sự khác biệt đó dưới góc nhìn gắn gọn, hài hước, thú vị, đầy tính chiêm nghiệm.
Một nghệ sĩ trẻ người Trung Quốc có tên Yang Liu hiện đang sinh sống tại Đức vừa cho ra mắt bộ ảnh đồ họa có tên “East Meets West” (Đông Tây gặp gỡ). Bộ ảnh cho thấy sự khác biệt trong đời sống văn hóa - xã hội giữa phương Đông và phương Tây.
“Đông Tây gặp gỡ” thể hiện cách nhìn vừa chính xác vừa hài hước về sự khác biệt muôn thuở. Nghệ sĩ Yang Liu cho biết: “Những thông tin được thể hiện trong bộ ảnh đồ họa này mang ý nghĩa tương đối cá nhân, dựa trên những trải nghiệm và cảm nhận của bản thân tôi sau gần hai thập kỷ sinh sống ở Châu Âu”.
Dưới đây là bộ ảnh thú vị của nghệ sĩ Yang Liu:

1. Cách thể hiện ý kiến cá nhân: Người phương Tây quan trọng sự thẳng thắn. Người phương Đông đề cao sự khéo léo, mềm mỏng.


2. Phong cách sống: Người phương Tây đề cao cái Tôi, năng lực cá nhân, cá tính riêng… Người phương Đông trân trọng cái Ta, con người phải luôn biết hòa nhập với môi trường xung quanh để tạo nên sự hài hòa.


3. Vấn đề đúng giờ: Đúng giờ là yếu tố rất được tôn trọng trong các cuộc gặp gỡ ở thế giới phương Tây. Người ta không cần đến sớm để thể hiện sự tôn trọng nhưng càng không nên đến muộn vì đó là hành động bất lịch sự. Người phương Đông thì khác, họ có thể xê dịch giờ hẹn đôi chút và điều đó không trở thành vấn 
đề lớn.

 4. Cấp trên: Trong thế giới phương Tây, sếp cũng là người đi làm kiếm sống như nhân viên, chỉ có điều cấp bậc, tầm nhìn và lương bổng của sếp cao hơn một chút. Ở phương Đông, sếp được coi là “người khổng lồ”.


5. Các mối quan hệ và sự kết nối trong xã hội: Các mối quan hệ trong thế giới phương Tây không mang nặng tính “dắt dây” như trong xã hội phương Đông.


 6. Cách thể hiện cảm xúc: Người phương Tây vui buồn đều thể hiện khá rõ ràng còn người phương Đông có thể “trong héo ngoài tươi”.


7. Văn hóa xếp hàng: Thực tế văn hóa xếp hàng đã dần hình thành tại nhiều nước phương Đông, đặc biệt tại các thành phố lớn. Tuy vậy, nhìn chung, nó chưa ăn sâu vào nếp sống của người phương Đông ở mọi lúc mọi nơi.

8. Nhìn nhận về bản thân: Người phương Tây rất quan trọng cái Tôi, đề cao tính cá nhân trong một số khía cạnh của đời sống. Họ đòi hỏi những người xung quanh phải tôn trọng những gì thuộc về vấn đề cá nhân. Ở phương Đông, cái Tôi thường nhỏ bé, dễ bị khỏa lấp và việc quên đi cái Tôi được cho là một đức tính đáng khen ngợi.


9. Đường phố ngày cuối tuần: Những ngày cuối tuần, đường phố phương Tây thường vắng vẻ, họ không đổ ra đường mà thường có hai lựa chọn: một là ở nhà ngủ bù cho cả tuần lao động vất vả, hai là về miền quê vui chơi, hít thở không khí trong lành. Ở phương Đông, đặc biệt tại các thành phố lớn, người dân thường đổ ra đường, tới các khu vui chơi và trung tâm mua sắm để giải trí.


10. Tiệc tùng: Tại những bữa tiệc trang trọng, người phương Tây thích đứng thành nhóm nhỏ, rủ rỉ trò chuyện. Người phương Đông thích ngồi thành những nhóm lớn, trò chuyện ồn ào, đó được coi là biểu hiện của sự hào hứng, vui vẻ. Tiệc càng ồn càng chứng tỏ tổ chức thành công.


11. Tiếng ồn trong nhà hàng: Người phương Tây rất ngại việc nói to ở nơi đông người. Vì vậy, ở nơi công cộng như nhà hàng, quán ăn, họ nói nhỏ, chỉ đủ để người ngồi với mình nghe thấy. Ngay cả việc gọi nhân viên phục vụ cũng được thể hiện bằng ánh mắt và động tác tay. Người phương Đông khá vô tư trong việc này, họ có thể nói to, gọi nhau í ới ở nơi đông người.


12. Thức uống “lành mạnh”: Ở phương Tây, nếu ai đó bị yếu bụng hoặc đau dạ dày, khi dùng bữa, họ sẽ uống nước ngọt có gas, trong khi đó, người phương Đông sẽ gọi trà hoặc nước khoáng.


13. Đi du lịch: Người phương Tây đề cao việc quan sát và trải nghiệm thực tế trong suốt chuyến đi. Trong khi đó, đối với người phương Đông, việc lưu lại hình ảnh làm kỷ niệm trong từng chặng đường, từng địa điểm thăm quan là một việc quan trọng không kém.


 14. Vẻ đẹp lý tưởng: Người phương Tây thích da nâu, người phương Đông thích da trắng.


15. Trẻ em trong gia đình: Trẻ em ở phương Tây không được cả gia đình chăm lo, ưu ái như ở phương Đông. Trong gia đình phương Tây, trẻ em có vị trí ngang bằng như những thành viên khác trong nhà, cũng có quyền lợi và nghĩa vụ riêng. Ở phương Đông, em bé thường được coi là trung tâm thú vị của cả nhà và các thành viên sẽ xoay quanh “tâm điểm” này.


16. Giải quyết vấn đề: Người phương Tây coi trọng kết quả sau cùng, vì vậy, họ sẵn sàng đương đầu với vấn đề cản trở, cốt sao đạt được mục tiêu nhanh nhất. Người phương Đông quan trọng quá trình thực hiện. Vốn không thích đối đầu, xung đột, nên người phương Đông có thể chấp nhận đi vòng một chút, tuy mất thời gian hơn nhưng vẫn đạt được kết quả sau cùng và không tổn hao quá nhiều sức lực.


17. Các bữa ăn trong ngày: Người phương Tây thường ăn sáng vội vàng, ăn tối qua loa, thường dùng đồ ăn nhanh, bữa trưa vì vậy được coi là bữa ăn thư thái nhất trong ngày khi họ có thể rủ bạn bè ra tiệm dùng bữa. Người phương Đông đề cao tầm quan trọng của cả 3 bữa ăn trong ngày, họ thích sự nóng sốt. Ăn uống qua quýt theo kiểu “cơm đường cháo chợ” là điều không ai thích.


18. Phương tiện di chuyển: Trước đây, khi người phương Tây coi ô tô là phương tiện di chuyển hiệu quả nhất, người phương Đông còn đi xe đạp. Giờ đây, người phương Tây lại coi xe đạp là phương tiện di chuyển “lành mạnh” nhất, trong khi đó, người phương Đông đã chuyển sang đi ô tô (nếu có điều kiện).


19. Cuộc sống của người già: Dạo chơi công viên ở phương Tây, bạn sẽ bắt gặp nhiều cụ già dắt thú cưng đi dạo. Ở phương Đông, bạn sẽ thấy các cụ già dắt cháu đi chơi.


20. Tắm táp: Người phương Tây thích tắm sáng rồi mới đi làm. Người phương Đông thích tắm tối trước khi đi ngủ.


21. Ẩm thực sành điệu: Người phương Tây sành điệu sẽ tìm tới các món Á. Người phương Đông “ăn chơi” sẽ tìm tới các món Âu.


22. Thời tiết và cảm xúc: Người phương Tây thích nắng, ghét mưa. Họ đặc biệt yêu những ngày nắng (có lẽ vì thế mà họ thích da nâu). Người phương Đông thích cả mưa và nắng. Nắng mưa đối với người phương Đông đều có nét đẹp, nét thú vị riêng.


23. Đông Tây trong mắt nhau: Trong mắt người phương Tây, người phương Đông đặc trưng với nón lá, thích uống trà và ăn cơm. Người phương Đông ấn tượng với người phương Tây vì mũ nồi cao, xúc xích và bia.

Bích Ngọc

Theo Bored Panda

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Trầu cau trong đám cưới người Việt

Trầu cau trong đám cưới người Việt
***

VIDEO: Ý nghĩa của sính lễ ngày cưới


Từ bao đời nay trong phong tục của người Việt Nam miếng trầu luôn đi đầu câu chuyện. Đối với câu chuyện cả đời của một con người cũng vậy, không thể nào thiếu được khay trầu.
Đám cưới lớn, chuẩn bị chu đáo thì trong quả lễ đầy ắp buồng cau trăm quả, trầu trăm lá; đám cưới nhỏ, chuẩn bị đơn sơ cũng chẳng thể thiếu chùm cau với mớ trầu đặt vừa đĩa.
 
 Từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ, dù đám cưới theo phong tục miền Bắc – Trung – Nam hay thậm chí cưới nhau tận bên tây thì đám cưới người Việt cũng không thể thiếu mâm trầu cau.
Từ xưa
Người xưa cho rằng, cây cau có thân tròn, chắc, thẳng đứng là biểu tượng của người con trai, còn lá trầu hình tam giác bầu bĩnh xoè ngang trên mặt đất như biểu tượng của người con gái. Dây trầu leo quấn quít quanh thân cau cũng là biểu tượng cho tình yêu bền chặt. Trầu cau ăn với một chút vôi thì tạo được một màu đỏ hồng như màu máu, màu son – màu đỏ biểu tượng cho sự thuỷ chung.
 
Từ xa xưa đám cưới người Việt không thể thiếu mâm trầu cau

Trong dân gian vẫn truyền khẩu với nhau: “Miếng trầu ăn kết làm đôi/Lá trầu là vợ, cau tươi là chồng/Trầu xanh, cau trắng, chay hồng/Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên...”. Với người con gái, cau trầu còn được coi là biểu tượng của sự tiếp đón danh giá để họ tự hào suốt đời, để họ được danh chính – ngôn thuận dạy bảo con cháu, người dưới và kể cả những bà “vợ lẽ sau này”. Những cô gái được hỏi cưới với “tay mang trầu, đầu đội lễ” có quyền và có trách nhiệm với nghĩa vụ vợ hiền, dâu thảo.
Ở những làng quê xưa, sau lễ ăn hỏi, nhà gái thường dùng cau trầu, trà bánh mà nhà trai đã mang sang, chia ra từng gói nhỏ để làm quà biếu cho họ hàng, bè bạn, xóm giềng... như một lời loan báo: con gái trong nhà đã có nơi có chỗ.
Đến nay
Cau trầu ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi lối sống, suy nghĩ và phong cách của người hiện đại. Khi chuẩn bị đám cưới, gần như sự lo lắng chỉ dành cho phần “vật chất” như đặt tiệc nhà hàng, chụp hình, thuê áo, thuê xe, in thiệp…
 
Bà Bích Ngọc, chủ sạp 1113 chuyên bán cau trầu Bà Điểm ở chợ Bến Thành, gia đình đã có ba đời chuyên nghề têm trầu, kết buồng cau cho lễ dạm ngõ – hỏi – cưới từ những năm 1940 đến nay cho biết: “Giờ đây người ta làm lễ  trầu cau theo hình thức ước lệ là chủ yếu, vì ít người ăn, nên gần như mâm quả cho các lễ đều giao khoán hẳn cho dịch vụ”.

Vậy thế nào là quả lễ cau trầu hiện đại mà vẫn đúng theo lễ? Bà Bích Ngọc, lấy kinh nghiệm từ những khách hàng và truyền thống bán hàng của gia đình chỉ dẫn: do người Sài Gòn hiện nay đã không còn tục lệ chia quà của nhà trai cho họ hàng, xóm giềng nên khay cau trầu chỉ cần 6 miếng trầu têm và quả cau bổ làm 6. Đáng chú ý là theo tục lệ miền Bắc, trầu phải têm cánh phượng, lá trầu phải là loại trầu cay màu xanh dày lá, vôi dùng loại vôi Bắc màu trắng và thuốc thường dùng kèm là thuốc lào, và loại vỏ đỏ. Theo tục lệ miền Nam trầu têm kiểu bánh ú, lá trầu là loại trầu ngọt (thường dùng trầu Bà Điểm) đi với vôi đỏ, thuốc lá và vỏ giấy.

 

Nếu lễ hỏi tổ chức có đông người tham dự, và để quay phim chụp hình cho đẹp, đi kèm theo khay trầu têm còn có một quả lễ gồm buồng cau và trầu đầy ắp, có thể từ vài chục đến vài trăm quả – nhưng phải là số chẵn – có đôi có cặp. Cách tính số lượng cau trầu: 1 quả cau = 2 lá trầu. Ngoài ra, người miền Bắc theo kiểu hiện đại đang chuộng buồng cau 105 quả theo cách nói “trăm năm hạnh phúc”. Người miền Nam chọn buồng cau 60 quả theo cách ví von “60 năm cuộc đời”.
                                                                     Nhất chi mai sưu tầm