Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Những hồ giết người nổi tiếng trên thế giới

Bạn có phải là người thích đi du lịch và khám phá những điều kỳ diệu,tìm cho mình cảm giác thú vị khi phát hiện một cái gì đó mà mình chưa biết.Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn:
                             Những chiếc hồ nổi tiếng trên thế giới có khả năng giết người một cách bất ngờ không dự đoán trước
 
Hồ Nyos ở Cameroon đã cướp đi mạng sống của gần 2.000 người và 8.000 gia súc chỉ trong một đêm vào năm 1986. Hồ Nyos là một trong ba hồ nước được gọi là tử thần, có lượng khí độc khổng lồ trên thế giới. Nyos là một hồ nước trên miệng núi lửa đã tắt, không hề giống những hồ núi lửa khác, bên dưới hồ Nyos tiềm ẩn một lượng mắc ma lớn. Một khi xảy ra chấn động, khí CO2 sẽ rò rỉ vào nước và có thể lấy mạng người trong chốc lát.



Sau thảm họa năm 1986, Hồ Nyos được mệnh danh là hồ giết người. Một trận sương mù bí ẩn bất ngờ bao phủ một khu vực dân cư gần hồ Nyos ở Cameroon đã cướp đi mạng sống của gần 2.000 người và 8.000 gia súc chỉ trong một đêm. Trên thi thể họ không có một dấu hiệu nào chứng tỏ đã bị chấn thương hay có một cuộc đụng độ nào đó dẫn tới tử vong.



Yellowstone nằm trên dãy núi lửa, ở độ cao 2.357m là một trong những hồ lớn nhất Bắc Mỹ với nước hồ quanh năm phẳng lặng, là nơi các gia đình thường cắm trại, nghỉ ngơi dịp cuối tuần. Tuy nhiên, miệng núi lửa gần đó là tử thần luôn ám ảnh du khách.
Một trận động đất nhỏ, thường là vô hại khi ở sâu dưới đáy hồ, nhưng sẽ đủ để kích hoạt như một vụ nổ. Khả năng gây chết người là ở đó. Đây là một hồ tuyệt đẹp nhưng cũng đầy thách thức.



Hồ móng ngựa (Horseshoe) ở Mỹ là một sát thủ thầm lặng. Hồ này rất đẹp nhưng ở cuối phía bắc có rất ít cây và không có dấu hiệu của sự sống. Lượng Carbon dioxide ở đây gấp 95 lần số lượng bình thường. Năm 2006, có ba người thiệt mạng do CO2 khi xây dựng trong một hang động gần hồ, nơi họ trú ẩn.



Hồ Mono là một hồ trong lành và tuyệt đẹp trong những năm 1940, cho đến nay nó được gọi là hồ “siêu mặn”, nó không hề có lối thông ra và cũng không hề bay hơi trong hàng chục nghìn năm qua, nó đã tích tụ muối và khoáng chất ở mức độ rất lớn.



Hồ miệng núi lửa Mount Rainier cũng là một trong những hồ bất thường. Hồ chỉ có thể đi vào thông qua các hang động ngầm. Khí núi lửa nơi đây là mối đe dọa lớn. Sulfur dioxide khi kết hợp với nước tạo thành axit sunfuric. Nước trong hồ miệng núi lửa và dưới hồ chính tạo ra axit sulfuric ăn vào đá núi lửa. Đá núi lửa ở Rainier có thể dễ dàng sụp đổ bất cứ lúc nào.



Hồ Kivu được gọi là Hồ Tử Thần bởi lượng khí độc nằm sâu dưới đáy nước lên tới hàng tỉ tấn. Theo tính toán của các nhà khoa học, lòng hồ hiện chứa khoảng 65 km3 khí Metan và 256 km3 khí CO2 khiến nó trở thành quả bom hẹn giờ khổng lồ. Nếu lượng khí này thoát ra, nó sẽ cướp đi sinh mạng của ít nhất 2 triệu người sống xung quanh hồ Kivu.



Năm 1984, đã có 37 người dân sống ở vùng hồ Monoun cũng qua đời một cách bí ẩn. Giống như trong thảm họa ở hồ Nyos, các nạn nhân đều chết đột ngột trong đêm mà không có bất kỳ một dấu hiệu nào cho thấy có một cuộc va chạm trước lúc họ qua đời.



Hồ nước sôi (Boilling Lake) nằm trong vườn quốc gia Morne Trois Pitons ở đảo quốc Dominica. Không có con đường nào dẫn thẳng đến Boiling Lake, thay vào đó bạn sẽ phải vượt 13km qua những con suối lưu huỳnh, những hẻm núi, thung lũng, trèo đèo và thậm chí cả bơi. Tại hồ nước sôi này, không có một loài thực vật hay động vật nào có thể sống ngoài những lỗ phun khí.



Hồ Rakshastal hay còn gọi là hồ ma quỷ. Nó là một hồ nước mặn, không có thực vật hoặc cá sống được ở đây. Theo huyền thoại thì nó là nhà của con quỷ vua 10 đầu, Lanka! Trong Phật giáo, hồ Rakshastal, có hình dạng giống như một lưỡi liềm, đại diện cho bóng tối.



Hồ Karachay, Nga là một vùng hồ nhỏ nằm ở trên núi Ural phía Tây nước Nga. Đây được xem là nơi tập trung của nguồn chất thải hạt nhân lớn của nước Nga và là một trong những nơi ô nhiễm nghiêm trọng nhất trên trái đất. Mức phóng xạ trong hồ cao tới 4,44 exabequerels (Ebq) với 3,6 Ebq Caesium -137 và 0,74 Ebq strontium -90 - một mức đáng báo động. Trong khi đó, mức phóng xạ đo được sau thảm họa Chernobyl vào khoảng 5 - 12 Ebq.

Đỉnh phù vân sưu tầm
Kienthuc.vn
Advertisement







































Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 Thanh Lãng Phần 5

NHỮNG VỤ ÁN VĂN HỌC THẾ HỆ 1932
Vụ Án Thơ Cũ - Thơ Mới
Phản ứng làng thơ cũ

Thái độ chung các nhà thơ cũ
Chẳng hiểu dựa vào đâu mà có người cho rằng trước sự tấn công của làng thơ mới, làng thơ cũ đã chịu thua ngay từ đầu không có một ai lên tiếng. Hình như đó cũng là ý tưởng mà Lê Tràng Kiều đã biểu lộ trong bài trả lời ông Thái Phỉ, Hànội báo số 19, 13-5-1936.
Sự thực đã không hẳn như vậy. Trong khi tường thuật những vụ diễn thuyết ủng hộ thơ mới ở Nam và ở Bắc, tôi đã đọc cho các bạn nghe những bài tường thuật của báo Phong Hoá và báo Phụ Nữ Tân Văn. Cả hai tờ báo đều tố cáo thái độ quyết sống quyết chết của phái bênh thơ cũ. Chẳng thế mà khi cô Nguyễn Thị Kiêm diễn thuyết mấy lần ở Nam kỳ và ở Bắc kỳ, phe phản đối thơ mới như các ông Nguyễn Văn Hanh chẳng những huy động bạn bè đi nghe để gây rối, để đăng đàn phản đối cô Kiêm tại trận mà ta còn thấy có lần cô Kiêm bước vào phòng diễn thuyết đã được người ta trao cho cô một túi đầy ắp những thơ hăm doạ. Cô Kiêm quyết liệt đối với thơ mới thế nào thì ông Hanh hăng say đối với thơ cũ như vậy. Thực là trong cuộc chiến tranh này chẳng những cá nhân chọi với cá nhân mà còn các cơ quan ngôn luận chọi với các cơ quan ngôn luận nữa : trận tuyến lan tràn từ Nam ra Bắc kéo dài suốt mấy năm trường. Nếu bênh thơ mới có Phong Hoá, Phụ Nữ Tân Văn, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Hànôi báo, Loa, Ngày Nay.. thì bênh thơ cũ có An Nam tạp chí, Văn Học tạp chí, Công Luận, Tiếng Dân, Văn Học tuần san, Tin Văn...Xét số đông thì bên thơ cũ buổi đầu chắc là ăn đứt bên thơ mới.
Tản Đà, tuy chẳng ưa gì thơ mới, nhưng xem ra nhà thi sĩ của chúng ta tế nhị lắm : chính ông không để cơ quan ngôn luận của ông là An Nam tạp chí tấn công thơ mới. Còn đối với thơ cũ, ông thản nhiên bênh vực nó một cách gián tiếp bằng việc cho đăng thơ cũ, bình giảng thơ cũ. Đề cập thẳng đến thơ mới với luận điệu mỉa mai có lẽ có trường hợp Vân Bằng trong bài " Tôi thất vọng về ông Phan Khôi " (An Nam tạp chí số 39, 30-4-1932).
" Vừa đây, ông lại ra công " sáng chế " ra một lối thơ " tân thời, tự do đặc biệt ", không cần niêm luật, tự ý vắn dài, làm cho nhiều người " hoài cổ " phải ngậm ngùi thương tiếc, " tám vế " luật Đường ! Có lẽ vì sự phát minh lối thơ mới này mà phải mai một đi chăng ?
Chất Hằng đả kích thơ mới của Phan Khôi
Ngoài An Nam tạp chí, tờ báo thứ nhất ở Bắc tỏ vẻ chống thơ mới là tờ Văn Học tạp chí của Chất Hằng Dương Tự Quán.
Trong bài " Ấm Hiếu Không thể làm Tú Khôi " hay là " Một cái tỉ hiệu luận giữa Phan Khôi và Nguyễn Khắc Hiếu ", Chất Hằng, trong lúc đả kích Phan Khôi ở nhiều phương diện, đã mỉa mai lối thơ mới do Phan Khôi khai mào. Nói về Phan Khôi làm thơ, Chất Hằng viết :" Người ít tình cảm thì sự cảm giác về cái bản ngã cũng kém cho nên Phan Khôi không hay làm thơ mà chỉ ưa nghiên cứu về thơ. Đôi khi Phan Khôi cũng làm thơ, nhưng thơ của ông cũng " hùng hổ " như ông... hay khắc khổ như văn xuôi của ông, hoặc nhạt nhẽo vô duyên như hình dáng của ông.
" Có lẽ vì thế mà Phan Khôi muốn thay đổi cái hình thức của thơ mà xướng xuất ra một thể thơ mới nó thật ra chẳng mới chút nào, và cũng ít người cùng ông hưởng ứng " (V.H.T.C. số 18, 1-6-1933).
Sau khi chế diễu thơ mới một cách nhẹ nhàng ngày 1 tháng 6 năm 1933, Chất Hằng viết liên tiếp ba bài công kích thơ mới đăng Văn Học tạp chí các số 22 (1-8-1933), số 23 (15-8-1933), số 24 ( 1-9-1933). Bài đăng số 22, với tựa đề " thơ mới ", đề cập đến cuộc cải cách thơ của Phan Khôi từng được mệnh danh là cuộc cải cách của thơ mới. Chất Hằng cho rằng cái mà Phan Khôi nhận là mới ấy, chẳng phải Phan Khôi là người đầu tiên xướng xuất ra, người đầu tiên xướng xuất ra là Nguyễn Văn Vĩnh :
" Phá cùm và cắt xích cho những nhà thơ, công cuộc giải phóng đó không phải là chẳng hợp lý và chẳng thích thời.
" Nhưng khi ấy cũng ít người hưởng ứng, trong số tôi thấy có ông Thượng Minh mà các bạn độc giả của Văn Học tạp chí chắc còn nhớ là một người vì quá hâm mộ ông Phan Khôi mà liệt ông Nguyễn Khắc Hiếu vào hạng nhà văn điên cuồng, gàn dở.
" Mới đây một tờ báo có tính cách hài hước " lại đem cái vấn đề thơ mới ấy đặt lên thảm xanh " và hết sức cổ động cho " lối thơ Phan Khôi " như lời ông Thượng Minh đã nói trong báo Đông Tây.
" Nhưng trước khi bàn về việc đổi mới cho thơ, ta hãy nên " trả cho César cái gì của César " đã. Tôi muốn nói rằng ông Phan Khôi chẳng phải là người thứ nhất đã có cái sáng kiến làm thơ quốc văn theo lối tây vậy.
" Người ấy có phải ai đâu mà chính là ông Nguyễn VănVĩnh. Ta hãy đọc mấy câu trong bài ngụ ngôn " Con ve và con kiến " dịch của La Fontaine ra đây :
Ve sầu kêu ve ve, suốt mùa hè.
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối
Một miếng cũng chẳng còn
Ruồi bọ không một con 
Vác miệng chịu khúm núm
Sang chị Kiến hàng xóm
Xin cùng chị cho vay
Giăm ba hạt qua ngày.
Đối với Chất Hằng, Nguyễn Văn Vĩnh hay Phan Khôi cũng thế thôi, toàn là người lập dị, phản động : vẫn biết phải đổi mới cho thơ, nhưng chỉ nên đổi mới tinh thần thôi chứ ai lại kỳ cục mà sửa đổi hình thức theo đây :
" Song tôi không đồng ý hẳn với người hay những người đã và sẽ sáng tạo ra các lối thơ mới, tuy trên kia tôi nói rằng công cuộc giải phóng cho thơ không phải là chẳng hợp lý và không thích thời.
" Tôi thích đổi mới cho thơ, nhưng tôi chú trọng về tinh thần của thơ hơn là là đường hình thức. Về đường hình thức của thơ, tôi dám nói rằng những nhà thơ cổ của Trung quốc đáng là thầy ta. Lối thơ Đường luật tuy bị giam hãm vào trong cái thi pháp chặt chẽ nhưng ta thử hỏi có lối thơ nào là chẳng phải bó buộc bởi những luật lệ nhất định. Ngay như thơ tây cũng còn phải theo phép tắc rất phiền phức. Vì nếu không thế thì không phải là thơ nữa.
Và ngoài thể thơ Đường luật nghiêm nhặt ra, ta há lại không còn thể nào rộng rãi nữa hay sao ?
Còn như coi thể thơ Đường luật có chật hẹp quá, thì có thể cổ phong cũng là rộng rãi lắm chứ, việc gì phải lập dị. Tinh thần hướng dẫn nhà thơ hiện đại phải là " dùng lối cổ mà diễn những tư tưởng mới " :
" Thì thể cổ phong đó thật đủ tư cách để ứng phó cho sự nhu yếu của ta. Cổ phong là lối văn có vần mà không đối nhau. Nếu có đối nhau là tuỳ ý của nhà làm văn, không phải là một luật nhất định. Cổ phong không có niêm luật, không hạn câu, tự bốn câu cho đến bao nhiêu câu cũng được. Cả bài dùng một vần tức là độc vận, như :
Hôm qua có bạn, rượu lại hết
Hôm nay có rượu, bạn không biết,
Cất đi, đợi bạn đến lúc nào,
Cùng uống, cùng vui trời đất tít
Khi say, quên cả ai là ta
Còn hơn lúc tỉnh nhớ mà mệt
Cả bài dùng nhiều vần là liên vận, như :
Đá xanh như nhuộm, nước như lọc
Cỏ cây hoa lá dệt như vóc
Trời hoang mây tạnh gió hiu hiu
Ai thấy cảnh này mà chẳng yêu
Mới biết Hóa công tay khéo vẽ
Tuy người điểm xuyết ra nước non
Bể cạn non bộ nhỏ con con 
Sao bằng tiêu giao cùng Tạo hoá
Bốn mùa phong cảnh thật không giả.
Đọc qua mấy bài thơ thể cổ phong tôi lục ra trên đây, chắc phần nhiều các bạn độc giả sẽ nghĩ như tôi rằng những người khởi xướng và cổ động cho lối thơ mới chỉ là " cho máy chạy rụt lùi " mà thôi, chứ có chi là đặt ra mới đâu.
Vì vậy tôi cho cái hình thức của thơ chẳng phải đổi mới. Việc các nhà thơ nên làm ngay bây giờ là cứ theo cái hình thức thơ cổ và diễn những tư tưởng mới.
Sang đến bài " Làm thế nào để đổi mới cho thơ " (V.H.T.C. số 23, 15-8-1933), về vấn đề hình thức, ngoài việc đề nghị hình thức cổ phong, còn đề nghị thêm hình thức lục bát và song thất lục bát nữa, nhưng ông không ưng cho người ta đi xa hơn nữa. Thế rồi ông kịch liệt tấn công sự nghèo nàn của thơ hiện tại về phương diện nội dung. Ông hô hào phải đổi mới cho thơ về mặt đề tài, về nội dung. Ông bảo :
" Sao người ta không vịnh cái máy bay, cái tầu thuỷ, cái ô tô, cái xe lửa, mà cứ quanh đi quẩn lại hết cái điếu, cái chổi lại đến cái nón hay cái hoả lò ?
Giá ông thi sĩ nào vịnh cho tôi cái toa máy xe lửa cũng linh động như mấy câu sau này :
Sur le taureau de fer qui fume, souffle et beugle
L'homme a monté trop tôt...
Mais il faut triompher du temps et de l'espace
Arriver ou mourir...
...Mais aucun n'est le maitre
Du dragon mugissant qu'un savant a fait naitre, của thi sĩ Alfred de Vigny tả những toa máy thứ nhất (Les premières locomotives) thì có phải ông ấy đã mở được cho thơ quốcvăn một con đường mới không. Tôi lại ước ao có nhà thơ nào đem con mắt biết quan sát mà ngắm những nhà máy và cảnh sinh hoạt anh em chị em lao động rồi vẽ nên được những bức tranh tuyệt xảo giống như của thi sĩ Verhaeren nước Bỉ, thì lúc này chúng ta còn có thể lạc quan, trong khi dự đoán tiền đồ của thơ quốc âm. "
Thương Sơn bênh thơ cũ
Chẳng những bảo thơ mới của Phan Khôi chẳng có gì mới mà còn cho thơ mới của bọn các ông chẳng qua chỉ là một thứ từ khúc hết sức cổ lỗ, lời thời trước đây đã có biết bao nhiêu người làm rồi. Bài này tựa đề là " Thơ mới tức là Từ Khúc " ký Thương Sơn một bài bổ khuyết bài " thơ mới "của Chất Hằng và được ông Chất bàn góp thêm ở phần cuối (V.H.T.C. số 24, 1-9-1933). Theo cả hai ông Thương Sơn và Chất Hằng thì thơ mới thực ra chỉ mới ở mỗi cái chỗ gieo vận. Vậy mà các lối vận của cái thơ được mệnh danh là thơ mới, lại chỉ là vận của các lối từ khúc mà thôi. Ông Thương Sinh phân tích các vần của hai bài : bài " con ve và con kiến "của Nguyễn Văn Vĩnh, cũng như bài " Tình già " của Phan Khôi, rồi đem so sánh với cách gieo vần của nhiều bài Từ Khúc để kết luận : thơ mới là một hình thức đi giật lùi.
" Kể ra thì trong bài " con ve và con kiến " cái lạ ở nơi cách bắt vần, cách này cũng hai câu một vần với nhau, đến hai câu khác lại vần khác, có giống như lối vần " liên tiếp " (rimes suivies) của tây. Ấy, cũng vì cái giống ấy mà chúng ta tưởng lầm rằng, cách bắt vần này mới lắm, song kỳ thực trong văn Tàu nó đã có từ lâu, nó đã cũ, tôi nói cũ để khỏi nói xưa đó thôi.
" Thì cứ xem bản dịch Tỳ bà của Tản Đà thư điếm cũng đã thấy cách bắt vần ấy rồi, nên bản Tỳ bà của Cao Đông Gia ở tận đời Nguyễn. Đây xin trích mấy vần :
Thám hoa (đọc) :
Bác chẳng thấy năm ngoái quan nghè Bùi ?
Ngã ngựa đứt băng một bên đùi.
Lại chẳng thấy năm trước quan đốc Phùng
Ngã ngựa vẹt hẳn một bên mông ?
Ở đời có ba sự rất sợ,
Chở đò, đánh đu cùng cưỡi ngựa.
. . . . .
lại điệu từ " Bồ tát Man " dịch đăng ở Nam Phong :
Bảng lảng non vàng cảnh minh diệt
Mây in mái tóc, thân pha tuyết
Ủ dột nét mày ngài
Điểm trang cùng với ai ?
Cánh hoa lồng trong kính
Mắt hoa cùng lấp lánh
Mới mẻ . . .
Đôi chim ai thêu thùa ?
Cùng điệu " Mộc Lan Hoa "
Đàn ai tiêu sái
Khiến khách giang hồ tình ái ngại ;
Lơ lửng trăng sân,
Bóng mình mình ngỡ bóng giai nhân
. . . . .
chẳng phải là bắt vần như bài dịch của ông Vĩnh ru ?
" Tôi còn nhớ như bài " Khóc Lâm Tứ Nương " đăng ở tạp chí này, nguyên Hán văn cũng bắt vần như thế.
" Vậy thì cách vần ở bài " Tình già " cũ lăm lắm chứ có cũ vừa đâu ! - ông Chất Hằng lại rõ thật là sơ ý. Ông không thấy rằng bài ông Vĩnh cũng bài cổ thể thứ hai mà ông chép ở đoạn sau bài là giống nhau lắm ru ? Bài trên là một bài ngũ ngôn ; cái lạ chắc không ở đó, mà ở cách bắt vần, song cách bắt vần lại giống bài dưới mất, nghĩa là người ta đã làm rồi, thì còn gì là sáng kiến nữa đâu ! Họa chăng chỉ còn ở mấy chữ " suốt mùa hè ".
" Từ trên tới đây, đó là tỏ một phần cũ của bài thơ ông Phan. Trước khi nói đến phần cũ khác của nó, ta hãy thử xem vì sao cách bắt vần " liên tiếp " nó đã có từ lâu rồi mà người ta lại ít làm tới, cho đến bây giờ người ta ngộ nhận rằng nó là " tân thời ". Ấy cũng vì nó không hay gì cho lắm, không êm ái bằng cách bắt vần như thơ Đường vậy, ấy nó cũng sắp vào vòng " đào thải " rồi. "
Rồi Thương Sơn đem so sánh bài " Tình già " của Phan Khôi với bài " Mối tình ngầm "của Trần qu Thường H.T., để quả quyết rằng thơ Phan Khôi còn cổ hơn là Từ Khúc nữa kia :
" Ông Chất Hằng chép bài " Tình già " sai với nguyên văn, nên chỉ chú đến cách bắt vần, mà không biết đến cái tự do của nó. Như thế, những người đã " lại đem cái vấn đề thơ mới ấy đặt lên thảm xanh " chắc sẽ không khỏi nói qua nói lại. Vậy xin thay ông chép lại mấy câu thơ gốc của " lối mới " rồi chỉ một chỗ " cũ " khác của nó, mà chỗ này quan hệ hơn.
Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ trong gian nhà nhỏ
Đôi cái đầu xanh kề nhau than thở
Ôi ! đôi ta tình thương nhau thì vẫn nặng
Mà lấy nhau hẵn đà không đặng,
Để đến nỗi tình trước phụ sau
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau
. . . . .
Đọc bài ấy rồi, độc giả đọc bài này :
Lá liễu xanh
Hoa hồng đỏ
Trăng rạng tỏ
Thấp thoáng trong mành ai to nhỏ
Ai to nhỏ ?
Vườn xuân cỏ cây tươi tốt
Khi xuân đầm ấm dương hoà
Dan díu cùng ai lời thề thốt
Hẹn dưới hoa.
" Ở trên bài đây, ta nếu thử đề rằng " Thơ mới " mà gửi cho mấy tờ báo vẫn chắc rằng lối " thơ Phan Khôi " là mới, họ sẽ đăng ngay, vì nó có theo luật lệ gì đâu, người ta cũng tự do đặt nó ra, nó là thơ " mới " vậy. Nhưng nó " mới " từ độ mười năm nay, trong Hữu Thanh khi xưa ; tôi đã trích ở trong bài nói về từ khúc của ông Nguyễn Ửng, nó là Từ khúc vậy. Từ khúc lúc ấy rất thịnh trong thi ca. Ấy là một lối thơ tự do, nhưng " tự do " ở trong " giới hạn " âm nhạc câu thơ, tự do phải đường ".
Động Đình đả thơ mới
Cũng trên Văn Học tạp chí số 49, 11-8-1934, Động Đình viết bài " Bàn thêm về lối thơ mới ", lời lẽ có vẻ còn cay nghiệt hơn trước đây. Trước hết, Động Đình cho rằng luật thơ cũ chẳng có gì là khó khăn gò bó cả :
" Ít lâu nay cái phong trào thơ mới sôi nổi dữ. Các báo thường thấy hô hào cải cách về thơ. Nào bài xích lối thơ Hàn luật, đổ tội cho thơ cũ của ta phải tội niêm luật quá nghiêm khắc, làm cho mất cả tinh thần tự do của văn chương đi. Nhưng nói thế là lầm, ta hãy xét lại những lời xưa ý cũ của các thi sĩ đời xưa xem có diễn được hết ý tứ, ngụ được đủ tính tình của người làm thơ, tả được hết cái trạng thái của vũ trụ, của cảnh vật không ".
" Đem so với thơ mới bây giờ thì thơ cũ hơn vô cùng, thơ mới vô vị thế nào thì thơ cũ thi vị và ý vị như vậy :
" Cái thi tứ thi vị ngày xưa so sánh với thơ mới bây giờ ra sao. Thật là thơ Hàn luật vẫn ý vị vô cùng, thanh tao biết mấy, bóng bảy dường nào, đọc lên, nghe đến ai mà không hiểu. Tuy, cái niêm luật, thể vần, lối thơ cũ của ta nó hơi khó, hơi nghiêm một chút, nhưng âm điệu vẫn thâm trầm, mà tinh thần vẫn hàm súc đủ các ý tưởng, tình tứ ".
Động Đình cho rằng những lẽ người ta viện ra để bảo thơ cũ luật lệ chật hẹp là không đúng, có thứ chặt chẽ như thất ngôn bát cú, nhưng lắm thứ chẳng có luật lệ gì gò bó như " ca, hát, từ, khúc, trường thiên, cổ phong :
" Vả lại thơ cũ có thật niêm luật khắc khổ nghiêm ngặt thì sao từ trước đến giờ thi sĩ có ai chịu không theo nổi cái niêm luật thể thức ấy đâu ?
" Kể thơ Hàn luật còn lắm điệu, nhiều thể rộng lắm như các bài ca, hát, từ, khúc, trường thiên, cổ phong, chữ và vần vẫn tự do chẳng cũng là đặc điểm khoan hồng cho thi luật lắm đó sao ? Bất tất phải thay đổi chi thêm phiền, thêm rắc rối. Còn lối thơ mới bây giờ, xét ra cũng bất ngoại cái khuôn sáo cũ. Thể cách tuy có hơi khác, nhưng cái tinh thần vẫn cũ rích.
Động Đình đồng ý phải đổi mới cho thơ, nhưng chỉ đổi mới về nội dung mà giữ y nguyên về hình thức chứ, theo ông, thơ mới, ngược lại, chỉ có mới về lời mà ý thì cũ rích và lạc hậu :
" Tưởng đã duy tân cho thơ thì cần ở chỗ tinh thần hơn là hình thức thì mới nên. Chứ chỉ bỏ có niêm luật thể vận cho dễ viết mà thôi, thì e rằng rừng thơ thêm gai góc, hồn thơ tổ vẫn đục.
" Duy có một điều mà tôi muốn bàn đây là chỉ nên cải cách nguyên cái tinh thần cũ. Vì ít lâu nay thơ ca nhường như phần nhiều đều phải chung cái bệnh không hồn. Phàm gọi là thơ, văn phải có tình, có tứ, có khí, có hồn, ấy thế mà chỉ thấy giọng sầu oán bi ai cả là nghĩa lý gì.
" Sao lại có thứ văn chương phù phiếm ấy, nhu nhược thế. Hay là vận thế đến lúc suy, mà văn chương cũng suy theo chăng .
" Văn tức là hồn nước, rất có ảnh hưởng đến nền tiến hoá ".
Cuối cùng Động Đình chê thơ mới yếu đuối, phản động vì buồn bã, ủy mị, hại dân hại nước, không bổ ích cho ai :
" Ta nên rèn dũa sao cho văn chương được hùng hồn, có vẻ hoạt động, thực tế, thì ở thế kỷ 20 này mới thích dụng. Lại còn phải thông thường thì mới bổ ích. Bởi thứ văn sầu cảm đã không bổ ích gì cho đường thực tế, mà lại làm thêm ủy mị đi, mất cả cái nhuệ khí phấn đấu, cái mãnh lực tiến thư, dẫu có hay mấy cũng là vô dụng ".
Nếu ở ngoài Bắc có Văn Học tạp chí đố kỵ thơ mới thì trong Nam có Văn Học tuần san chửi bới thơ mới. Hai nhà văn của Văn Học tuần san bênh thơ cũ chửi thơ mới quyết liệt hơn cả là Tùng Lâm Lê Cương Phụng và Thiết Diện.
Để bênh vực thơ cũ là thứ thơ có âm điệu, có tiết tấu, nghĩa là có chất thơ, tức là đáng gọi là thơ, Tùng Lâm Lê Cương Phụng viết bài " Nói chuyện văn vần : lịch sử và giá trị của nó " (V.H.T.S. số 5, 1-5-1935).Trước hết Tùng Lâm phân biệt văn vần với văn xuôi :
" Tình cảm ở trong, phát lộ ra tiếng nói, tiếng nói có tăng thứ, có ý vị, có âm hưởng, làm cho người ta dễ cảm xúc được, ấy là nguồn gốc của văn vần.
" Tiếng chim hót mùa xuân, tiếng ve ngâm mùa hạ, tiếng dế khóc mùa đông, tiếng cao, tiếng thấp, tiếng nhặt, tiếng khoan, ấy là manh mối của văn vần.
" Văn vần có cái đặc điểm khác văn xuôi là câu đặt gọn gàng mà bóng bảy, lời đưa uyển chuyển mà tiêu dao. Nay xin kể qua lịch sử và giá trị của nó ".
Thế rồi ông ngược dòng lịch sử mà phác vẽ nguồn gốc của thi ca từ Tây phương qua Đông phương, từ đời thượng cổ cho đến nay, đâu đâu người ta cũng thấy văn vần là thứ văn của thần linh :
" Lịch sử văn vần ở Thái tây phát sinh từ đời nào tôi chưa được chắc ; chỉ theo thần thoại Hy Lạp, tôi được biết rằng Apollon là một đứng thi thần (Dieu de la poésie) ; còn theo lịch sử văn chương YÙ Đại Lợi thì tôi thấy người ta tôn sùng Daute làm thi tổ, vì cuốn La divine comédie của Daute.
" Ở Pháp hình như bài vận văn đầu tiên thì thuộc vào thế kỷ thứ IX (chỗ này chúng tôi đương còn tra cứu). Ở Tàu thì trước kỷ nguyên Thiên Chúa hai nghìn năm vào đời Nghiêu, Thuấn đã nứt mầm rồi, đại để như bài ca Cao Dao, bài đờn Ngu Thuấn, bài hát Khang Cù...đều là câu có vận cả.
" Trải qua một khoảng thời gian khá dài hơn hai ngàn năm nữa, từ đời Thành Chu tới đời Lục Triều, lúc bấy giờ văn vần mỗi ngày một tiến lên, và biến thể rất nhiều, từ lối Quốc Phong, Nhã, Tụng mà tiến dần tới thi Ngũ ngôn, Thất ngôn. Dẫu rằng các nhà học giả sinh vào thời kỳ ấy có trứ tác lối văn lý thuyết như Tiêu dao thiên của Trang Chu, Đạo đức Kinh của Lão Tử, và các sách của Tuân, Dương, Quản, Án...nhưng đó chỉ là một thể văn, không thể đánh đổ nổi lối văn gọi là văn tánh tình như vận văn được ".
Tùng Lâm ví thơ với hội hoạ : cái khó của đôi bên làm nên chính cái giá trị của cả đôi bên. Hội hoạ tài tình vì những nét tỉ mỉ, thơ kỳ diệu vì những luật lệ tinh vi. Bỏ tất cả các thứ đó đi, hoạ không còn là hoạ và thi cũng hết là thi :
" Nhà làm văn vần, cũng như nhà hội hoạ, nét bút nhà hội hoạ càng tỉ mỉ, tinh tế, bóng bảy đúng mẫu mực, thì mới thấy cái khéo của nét bút thần tình. Trái lại nếu không có cái sở thích (gỏt) và không thường để ý thưởng thức nó thì không bao giờ nên một nhà danh hoạ được. Nhà làm văn không có cái đặc tánh sở thích thì bao giờ làm nổi văn vần ? "
Sau đó ông bác bẻ những lý lẽ người ta viện ra để chê trách các luật lệ gò bó, câu thúc của văn vần, tức của thơ cũ. Theo ông, thơ là cái gì tinh hoa nhất trong nghề văn :
" Tôi đã có thường thấy nhiều người phản đối văn vần. Họ cho rằng : lối văn ấy câu thúc trong quyền sáo, tẳn mẳn đẽo gọt, mất hết tự nhiên, và nhiều khi vì vận mà ép câu vì lời mà hại ý, mà nhất là phí mất cả thì giờ.
" Phải, chính lúc ban sơ tôi đây cũng nghĩ như thế . Nhưng rồi sau tôi nghĩ lại : Văn vần đứng trong các thứ văn cũng như một mỹ thuật đứng trong các nghệ thuật.
" Văn vần như cánh hoa cắm để chơi, bức tranh treo để ngắm, cây đờn đờn để nghe. Nếu cắm cành hoa không sắc không hương, treo bức tranh vẽ vụng về thô tháp, nghe tiếng đờn không nhịp không nhàng, thì cái giá trị đặc biệt nó ở chỗ nào ? Thà đừng có còn hơn.
" Một lẽ nữa : văn vần là một lối văn để thưởng thức mà chơi. Muốn chơi đến nó, tự nhiên phải theo niêm luật, vận âm của nó, nghĩa là phải nằm trong khuôn sáo của nó ; cho được câu văn chải chuốt bóng bảy, tự nhiên phải phí mất thì giờ. Cái đó để riêng phần cho các nhà tao ông, mặc khách là những nhà tài tử phong lưu, lúc nhàn du ngâm vịnh, chớ mình, thày lay chơi đến nó làm gì mà bảo rằng tốn công tỉ mỉ, phí uổng thì giờ ? ".
Cuối cùng Tùng Lâm kể ra tất cả thể thơ của ta, từ lối bắt chước Tàu (hễ Tàu có gì thì ta có nấy) đến các lối riêng của ta như lục bát, song thất lục bát, ca trù, ca Nam, xoang xẫm, trống quân...rồi ông kết luận rằng thi ca Việt Nam phải là theo truyền thống ấy.
Theo ông, thơ mới chẳng qua chỉ là sự lập dị của một người (chắc ám chỉ Phan Khôi) không thể lấy đó làm khuôn phép :
" Thì tôi dám nói quả quyết rằng, lối văn vần chẳng hạn ở Tàu, ở Tây, hay ở Ta, cứ mỗi ngày mỗi tiến mãi lên vì no cóù cái giá trị đặc biệt, cho nên nhà làm văn vẫn chú ý đến nó và muốn bồi bổ cái gốc nó mà khuyếch trương mãi, trừ ra một ít người không muốn dụng công đặt để tìm theo cách dễ dàng, mau lẹ, khuynh hướng về lối thơ mới. (Chúng tôi sẽ có bài nói riêng về thơ mới). Còn riêng ra những hạng người thích ngâm vịnh, chuộng tài hoa thì thật không bao giờ bỏ qua các lối văn vần để có qui tắc như từ lâu nay chúng ta thường thấy đó " (Văn Học tuần san số 5, 1-5-1935).
Tùng Lâm Lê Cương Phụng đả kích thơ mới
Sang đến Văn Học tuần san số 6, 1-6-1935, Tùng Lâm tấn công thơ mới ra mặt.Vì chưa có trích tuyển ở đâu nên tôi trích vào đây toàn bài để cácbạn tiện bề so sánh. Trong bài này Tùng Lâm đề cập đến các điểm sau đây :
1) Chỉ có hạng dốt mới muốn thơ mà lại thơ dễ dãi không niêm luật.
2) Thơ mới là thứ thơ bừa bãi,vô kỹ luật.
3) Minh chứng những chỗ dở của các bài thơ mới.
4) Trách Đông Hồ đã đi lầm đường bỏ thơ cũ là chỗ sở trường của ông để đi vào thơ mới với những bài thơ vô vị :
" Thi vẫn một món trong các thứ văn vần, nhưng đối với các thứ ấy nó lại rắc rối mắc mỏ hơn nhiều. Người đã từng chơi với nó và nếu được ý vị nó ít nhiều, thì lại càng thấy cái khó của nó ; trừ ra những hạng " bướng " hoặc chưa có nhà " đại gia " " căng nọc " ra chỉ vạch những chỗ khuyết điểm cho, thì bao giờ họ cũng vẫn cho là dễ.
" Mà thật thế, có khó chi, cứ đủ vần đủ chữ, đừng thất niêm thất luật, ấy là thi đó chứ gì. Đó là nói về lối thi ngũ ngôn, thất ngôn, chớ còn cái lối thi như hiện thời gọi là " thơ mới " đó, lại càng dễ hơn thập bội nữa. Cứ việc kéo, tha hồ kéo, kéo lượt bượt, mấy vần cũng được, mấy chữ cũng xong, không có khuôn sáo nào, luật nào bó buộc, dễ biết bao nhiêu, không trách gì hạp với thời thượng cũng phải.
" Họ bảo rằng : Cái thời đại này là thời đại máy móc, trăm ban vạn sự gì cũng cần sự mau chóng tiện lợi, đâu có phải như cái đời cũ kỹ trước kia, bất kỳ việc gì cũng chần chờ, chậm chạp, làm phí mất thì giờ, nhà văn cũng thế, ngồi rung đùi tối ngày, tằn mằn tỉ mỉ, đẽo gọt từng câu từng chữ, đối với thời buổi này không dùng lối ấy được đâu ". Nghe có lý lắm ! Nhưng có người cắc cớ hỏi vặn lại một câu :" Thi là một món chơi, để tiêu khiển thì giờ, nó đối với nhân sanh thực tế không quan thiết gì, có cũng được, không không sao, ai bảo đeo đuổi nó làm chi, rồi chê bai nó, ghét ghen nó, mắng nó là lối văn chặt chịa, ở trong quyền sáo niêm luật, không được tự do ? Nếu muốn dễ dãi thì hẳn cứ viết văn xuôi đi, cho người ta dễ hiểu, việc gì phải ngụy tạo ra cái lối văn " cổ chẳng ra cổ, kim chẳng ra kim " ? Thì đây, tôi xin đem ra một bài này để làm đại biểu cho trăm nghìn bài khác :
CẢNH TRỜI XUÂN
" Cảnh trời xuân,
" Em dạo ra sân,
" Đứng trông, em càng khoan khoái tinh thần.
" Kìa kìa, con chim nó hót cái giọng
" Thảnh thót như một vị mỹ nhơn, khảy khúc đờn.
" Khúc đờn này, tiếng nhặt tiếng khoan, tiếng cao tiếng
" Thấp, dường như khêu gợi mối xuân tình của em
" Từ bấy lâu nay dồn dập
" Rồi em nghĩ vơ nghĩ vẩn, tâm hồn em lẩn thẩn.
" Nghĩ cái tuổi xanh này, là cái tuổi thơ ngây
" Một mai xuân này đã qua, thân em già
" Lúc bấy giờ, em tưởng tượng lại,
" Em chi xiết ngậm ngùi, nỗi ngậm ngùi.
" Mây bay, nước chảy, hoa trôi ".
(Xin dấu tên của tác giả)
" Đó, thơ mới đó ! Tác giả chính là tín đồ của thơ mới, thật tôi ráng đọc ; tôi muốn nói thơ, thì thơ chẳng ra thơ, tôi muốn nói ca, thì ca cũng chẳng ra ca. Tôi chỉ hiểu cái bài ấy là bài ấy đó thôi !
" Song, cái bài này đây, nghe ra còn có câu, có nghĩa, chỉ hiềm nó không ở trong một khuôn sáo là " thể " gì cả.
" Tác giả bài này trước kia là tín đồ của thơ luật, có nhiều bài thần tình lắm, chẳng biết bị cái phong trào thơ mới nó lôi cuốn thế nào, nay lại xoay sang làm tín đồ thơ mới ?
" Lại gần đây, có nhiều nhà phỏng theo điệu thơ Tây làm ra nhiều bài, cũng tự cho là thơ mới.
Như bài này :
BÊN GỐC CÂY DỪA
" Ánh nắng trời thu dịu dàng êm mát,
" Bên gốc dừa, cô em ngồi lặng buông câu.
" Trên thảm cỏ xanh, bên sông bát ngát,
" Cô đăm đăm nhìn dưới nhịp cầu.
" Phong cảnh đẹp bóng cây in bóng nước, 
" Lá rung rinh, tàn xanh lả lướt.
" Mặt cô em tròn trắng xinh tươi,
" Dưới vành khăn, phơ phất mái tóc mai.
" Mắt lóng lánh, làn môi tươi thắm ;
" Khiến cho tôi nhìn cô em say đắm.
" Nhẹ nhàng tôi bước lại một bên.
" Ngồi gần cô, tôi lẳng lặng ngắm xem,
" Giờ lâu tôi mới tìm lời ướm thử
" Rằng " câu cá vẫn là một cái thú :
" Những người thanh tao ẩn dật xưa nay,
" Chỉ biết thanh nhàn với cỏ cây,
" Sớm vác cần câu bên khóm trúc...
" Buông cần cô em ngảnh nhìn tôi :
" Cặp mắt ngây thơ, cô trả lời :
" Em nào phải thanh nhàn phong phú,
" Mượn cảnh thiên nhiên làm vui thú.
" Nhà nghèo sớm tối em nhọc nhằn,
" Lúc dưới nắng hạ, lúc mưa xuân,
" Lúc gió đông thổi lạnh lùng rét mướt,
" Và sương thu rơi thấm ướt,
" Em vẫn phải làm với ngày tháng cho qua,
" Bên gốc cây, câu để nuôi nấng mẹ già,
" Trong túp lều tranh, sớm mong chiều đợi.
" Hai mắt đã loà, hai chân đã mỏi,
" Chỉ trông vào em, kiếp sống chiều tàn...
" Cần lòng yêu, để che nỗi khóc than...
" Em nào phải thanh nhàn phong phú,
" Mượn cảnh thiên nhiên làm vui thú,
" Sớm câu, chiều câu, lại mai câu.
" Mong có cá nhiều và mong mẹ sống lâu,
" Bữa qua bữa với tấm lòng vui vẻ,
" Của một mẹ già trông mong ở con trẻ.
" Thể thơ đó, bắt vần như thể thơ Tây, nhưng tác giả phun châu nhả ngọc, muốn bao nhiêu tuỳ ý. Có bài gấp đôi, lại cũng có bài ngắn bằng nửa.
" Mà rồi ta thử  lẳng lặng ngâm coi, coi cái giọng ngâm nó ra sao ? Ngâm như ngâm thi thì ngâm thế nào được, hay là phải ca như ca Văn Thiên Tường ? Hoặc phải bắt giọng như giọng ca Tiều của cô Phùng Há ?
" Xét cho kỹ, chẳng qua tác giả chán nản cái công phu đặt thi luật, nó chỉ có bốn câu tám câu năm vần, ba vần mà phải cho đủ ý, đủ lời, không thất niêm, không phản luật, không lạc vần, thấy khó chơi, rồi thì băng qua một con đường khác đặng cho dễ dãi, nhưng không ngờ lại đâm ra cái bãi đại sa mạc minh mông !
" Muốn cho dễ dãi một ít, khỏi mất công phu đẽo gọt, thì tôi xin hiến cho một kế là hẵng làm theo lối thơ Đường, mà thể Đường cổ phong. Thì như bài này :
 
THƠ VUA SIAM MỚI GỬI CHO VUA CŨ
" Năm xưa chú bảo chú đau mắt ;
" Bà con ai cũng cho là thật ;
" Cả nước chờ chú về làm vua ;
" Ai ngờ tin chú ngày một mất
*
" Bây giờ thơ chú gửi về nhà,
" Rằng chú ở lại nước người ta,
" Ngôi vua chú không muốn ngó đến,
" Thịnh suy mặc kệ nghiệp ông cha.
*
" Không lẽ nước có, vua không có,
" Đình thần mới chọn cháu lên đó,
" Cháu đã nghĩ tới rồi nghĩ lui,
" Cháu biết làm vua là chuyện khó
*
" Vì rằng trong nước đảng phái nhiều,
" Quân chủ, dân chủ biết bao nhiêu,
" Rầy nhất là chính sách lập hiến,
" Quyền vua chỉ còn có một thiu.
*
Cũng vì mẹ cháu bàn giải mãi,
" Cháu không làm vua cháu cũng dại,
" Dầu chỉ có vị không có quyền,
" Nhưng mình ăn tiêu còn rộng rãi.
*
" Huống chi kinh tế buổi khó khăn,
" Tay làm không đủ cho miệng ăn,
" Ai chê ai cười chi cũng mặc,
" Làm vua còn sướng hơn làm dân.
ĐƯỜNG QUANG
(Trích ở báo Ánh Sáng)

" Đó cũng là lối thơ dễ dãi, mà nghe hay, lại có lý thú nữa. Nếu muốn văn hoa thêm thì phỏng như bài này : 
HOA THẬT HOA GIẢ
(Lời cô hàng hoa)
" Cô em hàng xóm sinh nhà nghèo,
" Trồng hoa tưới hoa sớm lại chiều,
" Gió đông vừa thổi hoa vừa nở,
" Cắt bó vội vàng đem bán chợ,
" Chợ chiều lác đác người hồ quang,
" Gánh hoa còn nặng cô bàng hoàng.
" Nào đâu quà em, nào cháo mẹ,
" Mẹ yếu em thơ lòng những thương !
" Đổ hoa xuống rãnh bưng mặt khóc,
" Khóc ra giọt lệ như giọt ngọc.
" Cúi đầu gạt lệ sợ người cười,
" Nhìn hoa dưới rãnh mắt khôn rời.
" Thương hoa thương cả công vun xới,
" Sương nắng công trình biết mấy mươi !
" Ô hay ! người đời riêng tính lạ !
" Hoa thật chẳng thích, thích hoa giả,
" Hoa thật hỏi mua nào mấy người ?
" Hoa giả đắt hàng như tôm tươi,
" Cô em ngẫm nghĩ bụng sực nhớ,
" Vì nghèo nên phải liệu chiều đời,
" Mua lụa mua phẩm, mua giây sắt,
" Nhuộm đủ các màu đem kéo cắt,
" Nào cành, nào cánh, nào đài trang,
" Khéo làm chẳng khác chi hoa thật.
" Làm xong hoa giả bán nhiều tiền,
" Lãi lời tấn tới ngày một lên.
" Mẹ khỏe, em học, chị buôn bán,
" Tay không bỗng chốc dư bạc nghìn !
" Có khi thong thả thăm vườn cũ,
" Mắt trông trăm hoa chiều ủ rũ,
" Tàn tàn, nở nở biết bao lần,
" Mưa mưa, gió gió ai là chủ ?
" Tần ngần ngắm nghía cô thương tâm !
" Chứa chan dòng lệ khôn ngăn cầm !
" Thương hoa, thương cả nghề buôn bán,
" Lai láng tình riêng năm lại năm.
NHƯỢNG TỐNG
" Gần đây lại nổi cái phong trào thi bình dân. Thấy có nhiều tờ báo đăng những bài thi, trong đó tác giả dùng nhiều tiếng rất tục tĩu khó nghe quá. Như là : ỉa phẹt phẹt, ăn ngủ đ..., bày mổng trôn...Bảo rằng đó là thơ bình dân. Lại còn ngụy biện bảo là lối tả chân. Gớm thật !
" Đâu có hiểu rằng, thơ bình dân nghĩa là thơ có tính chất bình dân, không cái " mốt " thưởng nguyệt xem hoa, đề non vịnh nước, tiêu sầu khiển hứng như những trang tài tử phong lưu, không mơ mộng lên cung quế, gặp Hằng Nga, uống rượu đào, nghe khúc sinh ca, như phái thi ông lãng mạn. Chỉ cốt lời văn mộc mạc, tả ra cái phong vị của hạng bình dân mà thôi.
" Muốn tập làm thi bình dân thì hẵng bắt chước như bài dưới này :
ĐI LÀM THUÊ
" Miền tôi ở lở dở,
" Đã cách với nguồn lại xa chợ.
" Muốn buôn, không có đồng vốn nào,
" Muốn cày ruộng, không có một sở ;
" Học mới học cũ cũng dỡ dang,
" Không phải thầy, cũng không phải thợ.
" Trong tay không có nghề,
" Thêm nạn khủng hoảng gớm ghê !
" Ma đói dục thúc mãi
" Buộc mình bước chưn đi làm thuê
" Nghe nói miệt trong đường xe lửa,
" Các ông đứng thầu làm nhiều sở.
" Lật đật mang gói đi ngay vào,
" Cùng bạn cô li làm dọi bữa.
" Đào đất đập đá,
" Công việc vất vả.
" Mong rằng mồ hôi đổi bát cơm.
" Đồng công đồng nợ có tiền trả,
" Nào hay vài tháng nay,
" Làm rồi tiêu rồi, không có đồng nào còn dính tay.
" Chỉ lưa cái mình mộc,
" Đi về lỡ cười lại lỡ khóc !
Người Làm Thuê
(Trích ở báo Tiếng Dân)
" Đó, xem có chữ nào quê kịch, sống sượng, tục tỉu không ?
" Luôn dịp nói chuyện thơ, tôi xin nói đến thơ Đông Hồ :
" Đông Hồ tiên sinh, một nhà thi sĩ đã viết ra nhiều tập, in ra nhiều cuốn, hình như tác giả có cái sở thích về thơ.
" Tôi để ý xem thì đoán được ngay nhà thi sĩ này có mấy cái đặc tính :
" Mấy năm trước, nhà thi sĩ vẫn là tín đồ của phái thi niêm luật, khoảng trung gian lại ít chuyên về lối ấy, thường dùng " Thơ tản văn ".
" Tôi không hiểu lối này là lối gì. Xin trích ra một hai bài dưới đây :
BÓNG TRĂNG TÀN
" Bàng hoàng tỉnh giấc, mảnh trăng khuya chấp chới giải bên màn, ngửa mặt nhìn trăng, lầu sầu quấn quít. Cùng ai dưới bóng trăng này : Gió hắt, sương bay, đêm thu lạnh. Cảnh xưa tình cũ nào đâu : tay ngọc ai cầm, lòng son ai tựa, tóc mây ai buông toả bên vai.
" Vói bóng bắt trăng, bức màn rung động, nào phải đâu tay ngọc ai đưa, để âu yếm mối ân tình trên đầu năm ngón...gối nghiêng trằn trọc suốt canh dài ! "
CÀNH HOA HỒNG
" Bình pha lê lóng lánh, cắm cành hoa hồng, tay ai vừa cắt trước sân nhà, buổi tan sương sớm. Đôi má hây hây, kề tựa đóa hoa mơn mởn, vẻ đẹp như lấn, khiến cho bông hoa hồng thèn thẹn nụ cười. Một ngày qua trở lại, cánh hồng bay tơi tả khắp bàn...
" Một năm qua trở lại, đôi má hây hây đâu đã vắng, cánh hoa hồng năm trước đã héo khô rồi. Đôi má hây hây, nay có lẽ, đang kề tựa đóa hoa mơn mởn nào đâu, nhưng vẻ đẹp biết có như lấn, mà khiến cho bông hoa hồng thèn thẹn nụ cười nữa không ? "
" Còn nhiều nữa, vô khối ! Tôi chỉ trích ra hai bài đó cũng như các bài khác.
" Tản văn là tản văn, mà thơ là thơ, đâu có thơ với tản văn chung với nhau làm một được ? Nếu bảo thơ thì tất nhiên phải có vần nghe mới được chớ, dầu cổ, dầu kim, dầu Đông, dầu Tây, chưa tầng thấy lối thơ nào mà thơ không vần, xin hỏi Đông Hồ tiên sanh ?
" Gần đây, nhà thi sĩ lại cũng chịu ảnh hưởng " thơ mới " ít thấy làm tứ tuyệt, bát cú như trước nữa, hoặc giả bị cái trào lưu thời thượng nó lôi cuốn rồi chăng ? Nhưng xem thơ mới của tác giả thì có phần kém hơn thơ luật nhiều. Tôi chưa nói chỗ hay chỗ dở, ý thì ít mà lời thì nhiều, đại khái như bài thơ này :
TRƯỚC GIÓ
(Tặng Thanh Lan)
" Chập tối hôm qua, ta gặp một người trong mộng.
" Người có cái đẹp dịu dàng, xinh tươi lồng lộng.
" Là cái đẹp mặn mà, đằm thắm của người con gái đến thì,
" Cái đẹp dễ khiến cho người nhìn đắm đuối say mê.
" Nàng đứng chỗ ào ào cơn gió rét,
" Hơi gió lạnh như thấm vào trong xương thịt,
" Chiếc áo lụa phong phanh màu tuyết trắng bong, giải khăn san phơn phớt màu hồng bay lả lướt, phất phơ theo chiều gió lốc, như một áng mây tàn lờn vờn trên cành cây ngọc.
" Ta, bấy giờ, thấy người giá buốt, mà trông nàng thì như chẳng chút lạnh lùng. Âu yếm, ta sẻ hỏi : Em ơi ! Lạnh nhỉ ? Mỉm cười, đáp lại lời ta : Anh ơi ! Tuổi trẻ ! tuổi trẻ là tuổi êm đềm, đầm ấm, nồng nàn, thì chi có sợ nỗi lạnh lùng của sương gió, của thời gian.
" Mặc gió thổi, sương gieo, thời gian lãnh đạm, ánh than hồng của lòng ta vẫn ấm và vui với văn chương, trăng gió, cỏ hoa,với non sông, ánh sáng và nhất là với tình ái của đôi ta ?
ĐÔNG HỒ
"
Tôi xin mạn phép tác giả, cũng trong bài ấy, bấy nhiêu chữ, tôi xin rút lại tám câu như thế này :
Gặp người trong mộng tối hôm qua,
Trạt tuổi xuân xanh nét mặn mà.
Chiếc áo phong phanh màu tuyết nhuộm,
Giải khăn phơn phớt áng mây qua.
Lạnh lùng chẳng quản cơn sương gió,
Đầm ấm như say thú cỏ hoa.
Âu yếm, ta vừa lên tiếng hỏi,
Mỉm cười, liền tỏ tấm tình ra.
" Như vậy cũng đủ ý, đủ nghĩa, mà chẳng gọn hơn sao ?
" Tôi đã đọc qua các tập thơ Đông Hồ, tôi có để ý đoán xét được tác phẩm của nhà thi sĩ này hầu hết chín phần mười là thư tình, mà là tình mơ mộng cả, thành ra hão và phù phiếm quá, ít có bài nào vịnh vật hoặc kỷ sự như mấy nhà thi nhơn khác. Thử lật một tập " Thơ Đông Hồ " ra xem, thì nhan nhản những bài : Chơi hoa, Khóc hoa, Nhớ Mai, Trông trăng nhớ người, Dưới hoa, Buồn nhớ người xưa, Buồn vơ buồn vẩn, Gặp nhau, Trách nhau...chan chứa cả giọng bi sầu ảo não.
" Rồi xem đến cuốn " Cô gái xuân " cũng thấy rặt những bài :
" Ngấn lệ, Quả tim, Cái hôn lần đầu, Giấc mộng tình, Đưa nhau, Hôn em, Dưới cây, Hỏi nhỏ, Gió buồng xuân...cũng là lai láng cả tình là tình !
" Thì ra cái tâm hồn nhà thi sĩ này thường vơ vẩn ở cõi " Cánh hoa thuỷ nguyệt " cùng là tiêu dao nơi hận hải tình thiên " trừ ra không mấy khi thấy lối văn nào khác nữa. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng bị mấy cái tật ấy mà Phạm Quỳnh tiên sanh tặng cho cái tiếng " văn chơi " " Ngông " chỉ nghĩa là không thiết thực.
" Vậy xin thi sĩ Đông Hồ cũng nên bớt bớt cái lối văn tình đi, xin luôn đừng chơi thơ mới nữa, hãy khôi phục lại lối thơ như các bài mấy năm trước đã từng làm, mong sau này sẽ trở nên một thi gia thằng mặc "
Sau khi chửi bới thơ mới và khuyên Đông Hồ nên bỏ thơ mới trở về với thơ cũ, Tùng Lâm Lê Cương Phụng còn lên tiếng cực tán thơ Đường mà ông cho là hơn hết mọi thứ thơ vì năm lý do sau đây (xem bài Những cái đặc sắc của Đường thi, V.H.T.S. số 9 tháng 9 năm 1935).
1) Là nấc tiến cuối cùng, tột đỉnh của thi ca Tàu.
2) Là vì nó là thể thơ được xã hội cực văn minh Trung Hoa trau dồi tô điểm trong mấy trăm năm.
3) Là vì nó là một kho tàng văn chương vô cùng phong phú, đủ màu, đủ sắc.
4) Là vì nó là thể thơ thuần nghệ thuật chứ không phải là thể thơ đạo đức.
5) Là vì lắm khi nó còn bao hàm ý nghĩa bình dân, phô thông.
" Đều là thi, trước đời Đường thì Hán, Tấn, Nguỵ cũng có thi, sau đời Đường thì Tống, Nguyên, Minh, Thanh cũng có thi. Thế sao lại Đường thi vẫn có giá trị hơn ? Các nhà thi sĩ phê bình nhau cũng lấy thi Đường làm căn cứ, các nhà nho học, cũng lấy thi Đuờng làm thi pháp nhập môn. Cho đến mấy câu sáo ngữ ở Tàu thường nói " Đường thi, Tống Tự, Hán văn chương " " Đường nhân phong vị " v.v... Thì biết thi Đường có giá trị hơn các thi khác. Nhưng, ta nên biết cái đặc sắc của nó ở chỗ nào ?
" Có người nói : Lục triều vẫn có thi, nhưng thi ấy phần nhiều phức tạp, Tống, Nguyên, Minh vẫn có thi, nhưng thi ấy không được phong tao, không bằng Đường thi gồm đủ các thể tài. Nói thế, vẫn có lẽ, song chỉ lấy một phương diện chớ sự thật thì còn nhiều chứng tá. Muốn biết cái đặc sắc của Đường thi, nên xem lời phê phán của ông Hồ Vân Đực thì mới biết rõ là xác đáng hơn.
" Ông Hồ là một thi sĩ có tiếng ở đời nhà Thanh, người có công nghiên cứu về thi học, có viết ra cuốn nghiên về Đường thi, trong có nhiều đoạn bài bác các nhà thi sĩ xưa nay nhiều chỗ ngộ giải ; nay tôi chỉ xin lược trích ra một chương nói về chỗ đặc sắc của Đường thi, hiến cho các thi nhân được biết một ít Đường nhân phong vị.
" Đường thi sở dĩ hơn các thi khác, có bốn cái đặc sắc :
" Một là do thể thi của Tấn, Nguỵ mà biến thành mới, có niêm luật, có cổ, cận thể, có trường đoản thiên. Tức như các bài đã tuyển trong bộ Đường thi tam bách thư.
" Hai là đời Thạch Đường từ vua Cao Tôn về sau, hơn ba trăm năm triều đình chỉ chăm một mặt dùng thi phú từ chương làm nấc thang cho sĩ phu trong nước. Đại để như ông Lý Thái Bạch làm ra bài " Thanh bình Điệu " thì được vua Huyền tôn yêu quí lạ thường, ông Bạch Cư Dị làm bài Trường Hận Ca thì vua Hiến Tôn vời làm chức Hàn lâm học sĩ, vua Mục Tôn thấy tập thi ca của Nguyên Thận thì vời làm chức xá nhân, cho đến các cung phi, hoàng hậu như Võ Hậu, Vi Hậu, Mai Phi, Dương Phi đều là các bà thích ngâm vịnh cả. Người bề trên đã ham chuộng, tự nhiên kẻ bề dưới phải lấy đó làm con đường tiến thân, thành ra một phong khí tập quán.
" Ba là ảnh hưởng của thời cuộc ; vì đời Đường từ khai nguyên Thiên hửu sắp về sau, trong nước thường gặp nhiều cảnh éo le, những cảnh ấy dễ làm đề tài cho thi nhơn đề vịnh, đại khái như việc An Lộc Sơn đời Minh Hoàng, việc Sử Tư Minh đời Túc Tôn, việc Trần Hoàng Chí đời Hiến Tôn, việc Chu Toan Trung đời Chiêu Tôn, thảy thảy những đại biến trong nước, nhà làm thi hay dùng sử liệu vào thi ca, mở xem một bộ Đường thi bao nhiêu bài đáng ca tụng, đều là những bài thời thế, như Điếu chiến trường, Yên ca, Tùng quân, Khuê oán, Cung Trung từ ...Có nhiều cảnh nên thơ, thơ mới nảy ra nhiều tình tứ, mới thấy chỗ đặc sắc.
" Còn một lẽ nữa, đời nhà Đường lấy thi làm tác phẩm văn chương, chứ không như Hán, Nguỵ và Tống chỉ lấy thi làm tác phẩm đạo đức, vì người đời ấy cho rằng đã là thi mà ngụ cái giọng đạo đức thì lời văn không được thôi xao, thành ra không lưu truyền được rộng, xem như thi của Châu Mậu Thúc, Thiệu Nghiên Phu ở Tánh Lý thì đủ biết.
" Vả lại, Đường thi thì có cái đặc sắc là phần nhiều chứa chất nhiều qua niệm văn học bình dân. Đại khái như thi của Nguyên Thận, Vương Xương Linh, Bạch Cư Dị, Cao Thích, Vương Duy... Phần nhiều thi của các ông ấy lời văn giản dị mà thâm, ý tứ dồi dào càng dễ cảm, thành ra một lối thi phổ thông trong đám bình dân. Lục trong thi Đường có nhiều bài miêu tả cảnh thống khổ của xã hội, như là trọng phú (thuế nặng), Phụ nhơn khổ (cái khổ của người đàn bà), Mãi thán ông (ông bán than) Chiết tí ông (ông gãy tay)...Nay tôi xin trích mấy câu trong bài Ông bán than dịch ra đây, để cho các bạn đọc biết rằng lối thi bình dân đã xuất hiện từ đời Đường :
" Mãi thán ông, phạt tân thiêu thán nam san trung, mãn diện trần khôi yên hoả sắc, lưỡng mấn thương thương thạp chỉ hắc, mãi thán đắc tiên hà sở dinh, thân thượng y phục khẩu trung thực, khả liên thân thượng y chánh đan, tâm ưu thán tiện nguyện thiên hàn "...
" Ông bán than, đốn củi đốt than núi Nam san, mặt mày khói khém lem lọ bôi, mái tóc xanh kịt, tay đen thùi, bán than kiếm tiền lo mưu sanh, lo ăn trong miệng, mặc trong mình, thương hại mình ông áo mỏng lét, ông lo than ế, cầu trời rét... ". Lối thi đó đủ chứng là một lối thi bình dân ".
Thế rồi, để kết luận bài " Những cái đặc sắc của Đường thi ", Tùng Lâm kết luận bằng việc hô hào các ông làm thơ mới hãy thôi lập dị :
" Hỡi các nhà thơ mới của ta ! Đừng tưởng rằng Đường thi là thi cổ hãy chịu khó tìm kiếm trong thi Đường mà xem thử coi, không có lối nào mà thi Đường không có, cái đặc sắc của nó là gồm đủ các phương diện, các thể tài, cảnh có, tình có, tả chân có, quí phái có, cần gì phải bịa ra thơ mới làm chi, làm cho nhiều bạn trẻ em học cách háo kỳ, tập làm theo, đã bất thành cú, mà rồi một ngày kia không còn ai biết Đường thi là gì, chẳng là uổng cho văn nghệ ba trăm năm của một đời toàn thạnh lắm sao ? "
Thiết Diện tỏ ác cảm đối với thơ mới 
Cùng một quan điểm như Tùng Lâm, Thiết Diện bày tỏ thái độ ác cảm của ông đối với thơ mới ở bài :" Quan niệm của tôi đối với thơ mới " (V.H.T.S. số 8, tháng 8 năm 1935). Trong bài này Thiết Diện cực lực chê trách thơ mới, coi nó chỉ là thứ đồ rác rưởi, trò múa máy quay cuồng của bọn người ngu dốt, nào có khác gì bọn du đãng mặc áo rằn ri, bọn lẳng lơ đi giầy cao gót. Theo ông đã gọi là thơ mới thì phải mới như thơ của Hồ Thích bên Tàu, chứ đàng này thơ mới Việt Nam, chỉ mới có mỗi một cái là bỏ niêm luật, còn tất cả đều cũ, đều xưa. Cái cũ và xưa ấy là cách dùng chữ, cách chọn đề tài, nhất là cái tinh thần từ chương, bạc nhược, thua trận, thiếu hẳn tinh thần bình dân, xa cái đại chúng vô sản lam lũ.
" Trong vũ trụ này, không có gì là không thay đổi ! Trái đất này vẫn xoay, thì tư tưởng người ta vẫn tiến ! Chúng tôi có lý nào không biết đến lẽ tuần tự tiến hoá mà lại đi nhận rằng thi phải ở trong khuôn mẫu chật hẹp của luật Đường và chỉ có thi nào ở trong khuôn mẫu ấy mới gọi là thi.
" Nhưng muốn làm một nhà thi chân chánh trong phái mới, thì ít ra cũng phải biết thi là gì đã, và cũng phải biết qua những luật Đường, làm được một bài thi cổ, dầu không hay cũng phải đúng với thi pháp. Như thế, nghĩa là tôi muốn nói nhà thi sĩ, phải có một cái khiếu về thi, phải có một cái học chắc chắn, chớ chẳng phải cóp nhặt năm bảy câu vô ý thức làm thành một bài vô nghĩa lý mà đã lên mặt thi hào đâu !
" Một ông bạn già của tôi thường hay nói :" Thời hư quỉ lộng, bọn ranh con thường hay cho mình hủ lậu, nhưng cái mới của chúng chỉ mới ở hình thức, mà mới một cách lố lăng theo cái kiểu áo rằn ri không khỏi đầu gối, và đôi giầy cao gót cao gần một tấc tây :
" Tôi hiểu ông bạn ấy lắm. Theo ông bạn, thì dầu mới dầu cũ, cũng đều có khuôn phép cả, nếu không thì 20 triệu người ý muốn của mỗi người !
" Chắc ai cũng biết bác sĩ Hồ Thích là người đề xướng ra thơ mới ở Tàu, trong cuốn " Thường thi tập " tiên sanh có đặt tám luật cho thơ mới, gọi là luật " Bát Bất " :
1)- Không dùng điển tích,
2)- Không dùng chữ sáo,
3)- Không buộc đối vế
4)- Có thể dùng chữ tục,
5)- Phải biết văn pháp,
6)- Bỏ lối không đau mà rên,
7)- Không buộc theo người xưa,
8)- Phải nói có sự thật.
" Thơ mới của ta đã có luật gì chưa, hay là mạnh ai nấy đặt luật ?
" Ông bạn già yêu quí của tôi lại một phen chíp miệng thở dài :
" Than ôi ! Mấy ông làm " thơ mới " ở nước ta miệng còn hôi sửa thì đâu phải là Hồ Thích ở nước Tàu ! "
" Thơ phải kể cái hồn của nó đã rồi sẽ kể đến cái hình thức. Cái hồn chưa thoát khỏi sáo cũ, cũng còn nghe " Tiếng sáo Thiên Thai ", " Tiếng trúc tuyệt vời ", " Tiếng nhạn kêu sương " v.v...thì đổi cái hình thức phỏng có ích gì ? Đó cũng chẳng khác chi bắt một bà già mặc áo rằn ri, đi giầy cao gót. Độc giả thử tưởng tượng trong trí, coi có được không ?
" Tiếng nhạn ở đâu, kêu sương hồi nào ? và sao gọi là Tiếng sáo Thiên Thai ?
" Thế là ở trong những bài thi cũ, người ta còn dung thứ ; chớ đã tự xưng là " thơ mới " mà còn sáo hư như vậy, thì đâu phải là những " chiến sĩ chắc chắn " để đỡ gạt những mũi tên của những người đại biểu cho thơ cổ có cái tên như " Nguyễn Khắc Hiếu ", " Trần Tuấn Khải "... ?
" Tôi vẫn biết rằng văn chương thi phú chỉ là cái phản ảnh vật chất, trên chỗ vật chất đã có điều cải cách thì trên chỗ văn chương làm sao cũng không khỏi có điều biến dịch. Nhưng một nhà thi chân chánh, ngoài việc biểu lộ tư ý ra, còn phải làm một người hướng đạo cho quần chúng nữa.
" Nhà thi phải nhắm đến quyền lợi của quần chúng trước nhứt, chứ chẳng phải chỉ biết có mình mà không biết có ai. Vậy thì thi ca không phải chỉ dùng để biểu diễn cái tâm hồn của cá nhân mà đủ ; cái quan niệm của phái thi sĩ lối mới như thế nào ?
" Nếu có dịp " giải phẫu " những tác phẩm của họ ra, thì cũng chỉ thấy đầy cả sự yêu đương mơ mộng, vì họ chỉ biết phát biểu tâm hồn đau khổ của một giai cấp " thua trận ", không nữa thì họ cũng chỉ biết sùng bái một vài cử chỉ anh hùng, sự sùng bái ấy chỉ là cái óc nô lệ của thời đại phong kiến còn sót lại mà thôi.
" Thiệt nhắm ra chẳng bổ ích gì cho hạng bình dân nghèo khổ, vì đối với cái quan niệm trên ấy thì hạng người sau này vẫn không ham muốn thứ ái tình mơ mộng viễn vong của một số người phong lưu đài các và cũng không có tư tưởng giống với tư tưởng sùng bái anh hùng, yêu nhà yêu nước của số ít người kia, đời bây giờ biết bao nhiêu đứng vô danh anh hùng đã phơi thây giữa đám bình nguyên để mua cái tiếng anh hùng cho một mình Mussolini, Hitler, hay Tưởng Giới Thạch.
" Đời bây giờ, không có tư bản thì không có nhà, và anh lao động ở đâu sống đươc thì ở đó là quê hương, vậy thuyết yêu nước yêu nhà có còn đứng vững không ?
" Cái quan niệm của mấy ông " thi sĩ mới " đối với cuộc thiệt tế sanh hoạt tôi chẳng thấy có chút gì là mới cả, mới chăng là mới với các ông ở giai cấp tiểu tư sản chớ chẳng mới gì với giai cấp bình dân.
" Xét về phương diện vật chất, thì những bài thơ mới của một vài ông bạn thiếu niên thi sĩ mà ông Nguyễn Triệu Luật ngoài Bắc đã gọi là " một tụi văn sĩ non hứng lấy mà vung vẫy những áng văn xuôi không vần ", xem ra chưa có những niêm luật gì nhất định. Thế nghĩa là thơ mới có kỷ cương đáng ở riêng vào một học phái. Đọc phần nhiều những bài thơ mới bây giờ, người ta đều có cái cảm tưởng rằng nhà thi sĩ bỏ cái khó tìm cái dễ để mạnh ai nấy viết, mạnh ai nấy ngâm. Đó là chưa nói đến sự dùng chữ sai (như nàng Ly Tao là nghĩa lý gì !).
" Xét về phương diện tinh thần, thì những bài thơ mới ngày nay đó chỉ là cái tiếng nói của giai cấp tiểu tư sản, là một giai cấp bại trận không có sức phấn đấu hẳn hòi như cấp bình dân. Chính giai cấp sau này mới là nguyên động lực tiến hoá của xã hội.
" Mấy ông bạn trong làng " thi mới " nếu có cho tôi hủ tôi xin chịu, nhưng tôi không sợ mất lòng mấy ông mà dám nói lớn với anh em bình dân rằng :
" Cái phái thi mới ấy vừa xác, vừa hồn không có ích gì cho anh em, chị em chúng ta cả ! Hãy tẩy chay đi ! "
" Không tẩy chay cái tinh thần bạc nhược của giai cấp thua trận thì anh chị em ta sẽ gặp lắm điều trở ngại trên con đường tiến thủ của chúng ta.
" Chừng nào thi mới của các ông có một khuôn khổ " mới " nhứt định, và thứ nhứt, chừng nào thi mới có một tinh thần bình dân đặc biệt, không có cái lối ru ngủ, cái lối mơ mộng hão huyền và biết ca tụng sự phấn đấu của chúng tôi thì chừng ấy chúng tôi sẽ hoan nghinh ngay.
" Rồi đây chúng tôi sẽ lần lượt đem những bài thi mới mà một số người làm thi mới đã ca tụng để bình phẩm, chúng tôi sẽ chỉ cho tác giả các bài thi kia thấy rằng tinh thần và thể chất mình là cũ.
" Xin ai kia đừng trách rằng chúng tôi cay nghiệt với phái thi mới, mà biết cho chúng tôi chỉ muốn làm một người bạn " ngang bằng sổ thẳng " mà thôi.
" Chúng tôi không chê thi cổ là sáo, bởi vì mấy ông đã chê nó là sáo rồi ".
Hoàng Tân Dân chê thơ mới phản động
Mang nặng óc đảng phái, có khuynh hướng thiên tả, Hoàng Tân Dân, không công kích thơ mới vì thơ mới bỏ phép tắc cũ, mà chê thơ mới có thái độ phản động, phản cách mạng ở chỗ chỉ phục vụ cho tư bản, không đau mà rên, cho nên lúc nào cũng xướt mướt (V.H.T.S. số 9, tháng 9 năm 1935).
Đẩu Tiếp chê thơ mới
Sau cùng, Đẩu Tiếp, vào tháng 11 năm 1936 (V.H.T.S. số 26), lại lên tiếng " Nói chuyện về thi ". Trong bài này, Đẩu Tiếp kết án Phan Khôi rất nặng nề. Theo ông, chính vì ganh ghét Tản Đà hơn mình về thi mà Phan Khôi phải lập ra thơ mới để được thiên hạ biết đến tên tuổi mình. Và bọn thanh niên ngu dốt không làm nổi trò trống gì đã ùa chạy theo Phan Khôi. Thành thử bên thơ cũ gồm bao nhiêu thiên tài thì bên thơ mới gồm bấy nhiêu tụi nhãi con, ngu dốt, bất tài. Giới thuyết như vậy rồi, Đẩu Tiếp đưa ra các điểm mà người ta chê thơ cũ để lại bênh vực thơ cũ, từng điểm một, như việc dùng điển, dùng sáo ngữ, lặp lại tư tưởng của tiền nhân.
" Từ ngày ngọn cờ ba sắc đã dựng nên giữa cõi trời Nam, muốn hiểu biết ngôn ngữ của người Pháp để tiện ra hợp tác với họ, hòng giành lại trong muôn một, một ít quyền lợi của ông cha để lại, quốc dân ta đều đua nhau xu hướng về đường văn học. Chữ Hán, một thứ chữ trước kia người mình vì dùng quen đã lâu đời, đã hầu thành ra một thứ tiếng mẹ đẻ, từ đó theo cớ chuyển vận đã hầu lọt ra ngoài vòng đào thải. Nhân tài nước ta bây giờ tây học càng rộng, thì Hán học càng hẹp ; Hán học đã hẹp thì quốc văn phải kém, vì chữ hán mà có người đã gọi là chữ Hán Việt, nghĩa là chung của Tàu và Ta, vắng nó thì chữ An nam nói ra hầu không thành tiếng nữa.
" Tuy vậy mỗi khi đọc đến những tác phẩm bằng tiếng mẹ đẻ của các cụ Nguyễn Tiên Điền, Nguyễn Công Trứ, tâm hồn ta tự thấy rung động rồi đem lòng khao khát, thèm thuồng, nhưng cố làm cho được một bài thơ như người xưa thì ngồi bóp trán mãi cũng chẳng thấy ra được chữ gì, hoặc được thì lổ đổ vài chữ kết lại cũng chẳng thành câu ! Thẹn thuồng và tức giận, bọn thanh niên ta đổ ra ghen với cổ nhân hầm hầm, toan đạp đổ những xiềng xích trong lối thơ Đường.
" Đương lúc ấy, thì Phan Khôi và Nguyễn Khắc Hiếu hai ngài không biết tại sao lại có điều xích mích nhau, rồi nổi giận cãi nhau, mắng nhau, rồi ghét bỏ nhau !
" Tự nghĩ Nguyễn Khắc Hiếu là kẻ thù của mình, mà trên đàn thơ lúc nào mình cũng nhường hắn đứng trước, Phan Khôi bèn muốn rẽ ra một con đường khác, bụng bảo dạ rằng dẫu hắn có đi trên con đường ấy, thì ta cũng được đi trên con đường này, cũng như một bên làm tướng nước Nhựt, một bên làm tướng nước Xiêm, nghe nói hai bên làm tướng cả thì người đời cho là hai bên nghịch nhau, nào ai biết tài bên nào cao, trí bên nào thấp mà phân biệt trên dưới. Nghĩ thế rồi Chương Dân tiên sinh vung văng vác bút chạy ra một con đường mới " Đả đảo Đường luật, làm thơ theo lối mới ". Bọn thanh niên nói trên nghe được câu nói của Chương Dân tiên sanh liền hăm hở bắt hơi nối gót theo tiên sanh. Phái thơ Đường diễu cợt họ càng cay thì họ lại châm chích phái thơ Đường càng độc. Phái thơ Đường gồm những bậc lão thành hay thanh niên kiêm thông cả tân học cựu học, hay riêng giỏi về một món học thì cho họ là " một tụi văn sĩ non hứng lấy mà vùng vẫy một thứ văn không xuôi không vần ". Hoặc có người độc hơn thì lại thuật bài thơ cổ người ta vịnh con cóc để cười những kẻ làm thơ không ra thơ.
" Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra, 
Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó,
Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi !
" Rồi kêu bọn " thơ mới " mà cười rằng tôi tưởng thơ mới của các anh ra thế nào té ra cũng như thơ con cóc mà có người đã làm hơn trăm năm trước. Lời công kích có thú vị và cay độc quá. Tôi xin giả làm một nhà thơ mới đáp lại.
" Người làm bài thơ con cóc, là vì ngó thấy con cóc như vậy mới làm thơ, người không biết cóc thì biết gì mà bình phẩm thơ cóc ! Không, những nhà thơ mới gồm có những kẻ mới học tòm tèm được 3 chữ Pháp, không hề hiểu một giọt (ne comprendre goutte) về hán văn họ không thèm đáp lại một cách vu vơ như vậy đâu. Trái lại câu trả lời của họ có nhiều khi nghe ra cũng có phần xác thực lắm.
" Họ nói : các ông chỉ là những bọn nô lệ chịu trói buộc trong những luật pháp nghiêm khắc của thơ Đường.
" Nhưng họ quên rằng chính nhờ ở chỗ pháp luật nghiêm khắc đó mà thơ Đường rất dễ nhớ. Vì trong bài thơ đã hẹn trước rằng " chữ nào trắc chữ nào bằng ", nên khi ta đọc mà thấy sai thì tự nghĩ liền và đổi lại, tuy vậy ta cũng đừng nệ theo Đường luật lắm, chịu thất luật một đôi chỗ mà câu thơ thấy già hẳn lên ta cũng thấy vui lòng, nhưng chỉ khi nào bất đắc dĩ không dùng chữ ấy mà dùng chữ khác thay vào không thú bằng thì ta mới chịu dùng chữ ấy và cam tiếng thất luật vậy. Phái thơ mới lại chê : thơ Đường của các ông chỉ biết khóc trăng khóc gió. Thơ Đường luật cũng có nhiều bài khẳng khái lắm chứ. Các ngài hãy đọc thử lại những thơ văn cổ ngày nay quốc dân hãy còn truyền tụng mà xem. Người xưa dầu có nhiều khi họ than khóc thì trong tiếng than tiếng khóc của họ cũng nghe rất là giọng trượng phu. Tả một cảnh đang rơi châu đau ruột, như trong Chinh phụ ngâm, họ chỉ biết dùng ngòi bút vẽ ra một bức tranh khiến ta trông vào mà tự đau ruột rơi châu, chứ trong bài nào họ có hề dùng tới một chữ rơi châu đau ruột ? Các ngài không nhận rằng sầu là một cái bệnh chung của con nhà văn nhà thơ mà nở công kích kẻ đa sầu đa cảm ? Ấy thế mà các ngài chỉ biết làm những lối thơ phóng đãng là gì ? Các ngài thường " ôi " ! Thấy hoa bay các ngài cũng "ôi" ! Thấy lá rụng các ngài cũng ôi" ! Thậm chí có ngài viết " tôi đau đớn, ôi huyền diệu " ! Các ngài lại nói thơ Đường luật hay dùng những điển tích mơ hồ, như có người làm bài thơ " Vịnh Trương Lương " :
Mình dịu dàng như gái,
Bao trời một lá gan !
Bốn trăm năm nghiệp Hán,
Ba tấc uốn trong màn.
Vẫn biết ba tấc đây là ba tấc lưỡi, nhưng ba tấc lưỡi uốn trong màn, thì có thể khiến cho mọi người hiểu được không ? Cách dùng điển như vậy coi cũng mơ hồ lắm, nhưng đó là tay vụng chớ tay khéo thì nhiều khi họ dùng điển chẳng những đã rõ mà lại hay ; có một cách dùng điển mà tự lấy làm thú lắm khi họ dung hoà hai điểm lại một. Như nguyên trong sách Thuý Kinh của Tàu có nói : Giống cá Gáy hễ đến tháng ba thì đua nhau nhảy lên thác Long Môn (cách Trường Yên cao 900 dặm, con nào nhảy lên được thì hoá ra rồng, cho nên người đời hễ ai thi đậu thì người ta ví như cá Gáy nhảy lên được Long Môn, còn con cá Gáy nào mà không nhảy lên được thì phải vạch cả trán mà phải trở về chỗ cũ).
" Nhân vậy rồi Lý Bạch có câu thơ nói người thi hỏng :
" Điểm ngạch bất thành long " vạch trán chẳng ra rồng ! thú vị biết là bao nhiêu, còn trong đám thi sĩ ta thì có người làm câu :" Lò đời thổi gió un mây... " thì ai cũng biết rằng là đời là một điển, gió mây là một điển, nhưng tác giả khéo biết dung hoà vào trong một câu " gió thổi un mây " ứng với lò đời cũng như câu thơ của Lý Bạch ra rồng ứng với vạch trán, điển tuy cũ mà tứ vẫn mới đó vậy. Dùng điển mà dùng được như vậy thì cũng đáng dùng lắm chứ, còn như không thêm được cái ý mới vào chỉ biết lập lại những tư tưởng cũ của người thì xem ra cũng nhạt. Ví dụ bậc thi bá đời Đường đã nói " xử thế nhược đại mộng " rồi ta lại lập lại : Trăm năm giấc mộng cười thân thế ; lời thơ tuy cứng nhưng phái thơ mới họ bảo dở đó kìa.
" Họ lại chê thơ Đường luật quen lập lại những tư tưởng của tiền nhân.
" Vẫn có thế nhưng cũng chỉ có những kẻ bất tài mới có thế thôi, chứ phàm người có tài năng họ cũng biết rằng trong mỗi bài thơ ít nhất cũng phải có một câu tứ mới. Đừng nói đến thơ nôm, nói ngay đến một số câu thơ chữ của người xưa cũng đủ thấy rồi. Khi trong bài " Đi chơi đêm với cụ Nguyễn Hàm Ninh ở núi Tuỳ Vân ", ngài Tùng Thiện Vương có câu :
Ngư xướng trời thanh ngoai,
Chung minh thọ sắc trung.
Chài reo ngoài tiếng sóng,
Chuông điển giữa màu cây !
" Trong bài mừng được ân ban một chiếc thẻ ngà khắc Tứ Nguyễn Hàm Ninh nhập các, được ra vào tự do trong các, của cụ Nhâm Sơn có câu:
Cung nhật hồi xuyên ảnh,
Giai hoa phật bội thanh.
Dịch :
Vầng nhật trên cung xây bóng vách,
Cành hoa quanh lối gõ bài ngà,
" Mấy câu thơ đó ông Cao Bá Quát đã khuyên đặt cả mặt giấy chẳng phải đều có tứ mới sao ?
" Phái thơ mới lại chê : các cụ ấy chỉ ngồi mà đẽo gọt từng chữ.
" Lạ chưa ! thơ đã gọi là một môn mỹ thuật thì dầu cho đẽo gọt chạm trỗ cũng là lẽ thường. Nhưng bao giờ câu thơ cũng được vẻ tự nhiên, nhà thơ vẫn dư biết thế ! Mở lời ra mà gặp liền được chữ đối xứng thì cụ Dương Bá Trạc cũng đối chơi :
Ta giã núi bụi hồng đeo đẳng,
Núi xa ta mây trắng mịt mờ !
" bằng không, thì cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng chỉ cười một hơi mà thành ra bài thơ vậy.
Tớ đẻ tháng mười năm bính tí,
Năm nay bính tí sáu mươi năm !
Kể vòng hoa giáp quanh đà khắp,
Còn nợ non sông chết chửa cam v.v...
" Nhưng các bạn thơ mới lại nói rằng : Các ông có học chữ tàu mà làm thơ nôm thì chúng tôi học chữ tây lại không có quyền bắt chước thơ tây mà chế ra một điệu thơ riêng để chúng tôi ngâm vịnh ?
" Đã bắt chước thì hễ ai có cái hay ta cũng có thể bắt chước được cả. Song thử hỏi lối thơ ta phỏng theo lối thơ tây, thì có thể ngâm nga được như lối thơ ta đã phỏng theo lối thơ Đường không ? Nói thế tất sẽ có người lấy làm lạ mà hỏi rằng vậy sao ta vẫn ngâm được thơ tây ? Vì ngâm thơ tây ta vẫn ngâm theo giọng tây, còn khi ngâm thứ thơ mới kia ta không thể ngâm theo giọng tây được, mà ngâm theo giọng ta thì nào có âm hưởng gì đâu. Đến như thơ Đường luật sở dĩ mình ngâm lên mà nó réo rắt như tiếng đờn nguyệt là vì hợp với tiếng ta đó vậy.
" Tóm lại, dầu chi ta cũng nên hoan nghinh lối thơ Đường luật, nếu có chê nó là khó thì cứ làm theo lối tứ tuyệt, lối song thất lục bát hay lối thượng lục hạ bát, cùng đi nữa thì những từ khúc.
" Thơ Thế Lữ, những bài xuất sắc cũng vẫn làm theo những điệu ấy, thế sao vẫn gọi là thơ mới ?
" À phải ! Ông Lê Tràng Kiều có nói : Vô luận thì làm theo điệu thơ gì có tứ mới thì đều gọi là thơ mới. Song tôi lại xin trừ ra lối thơ mà ta vẫn mô phỏng theo thơ tây một cách vô ý thức, vì ngoài một đôi người như Thế Lữ là vẫn có một chút tài, còn thì lối thơ lố lăng ấy chỉ tạo ra được những nhà thơ non như là Phúc Nhuận, ông Đỗ Phủ (ông Đỗ Phủ người Bắc chứ không phải cụ Đỗ Phủ người Tàu đâu !). Nhưng điều đó ta cũng chẳng cần lo, vì ông Phan Khôi thì đã ngỏ lời từ biệt lối thơ " không xuôi không vần " kia trên báo Trường An độ nọ, còn những đồ đệ của ông mỗi ngày mỗi vắng dần. Nhiều kẻ hô hào đào thải thơ Đường luật, ngày nay lại muốn trở về với nó. Đáng khen thay những kẻ biết rộng thấy xa, lâu nay vẫn dốc một lòng thờ phụng thơ Đường " (Văn Học tuần san, số 26, 1-11-1936). 
Tản Đà lần đầu tiên lên tiếng về thơ mới
Trong cuộc tranh luận thơ mới thơ cũ này, Tản Đà xem ra có căm tức lắm, nhưng Tản Đà khôn lắm, ít khi lâm trận đánh thẳng vào địch, dù địch đó là Phan Khôi. Trong mấy lần đụng độ với Phan Khôi, như vụ Nho Giáo, vụ Cái Cười Con Rồng Cháu Tiên..., Tản Đà đã hăng hái, quyết liệt, phũ phàng nữa là khác. Vậy mà trong vụ thơ cũ thơ mới, Tản Đà xem ra đứng ở ngoài. Bài Tản Đà đả kích thơ mới mạnh nhất có lẽ chỉ là một bài chửi mát, mà cũng chỉ là chửi mát Phan Khôi trong bài " Hài đàm của Tản Đà : Thơ mới " đăng ở Phụ Nữ Tân Văn số Xuân năm 1934. Tản Đà đem so sánh Phan Khôi với Lý Bạch cũng như so sánh một họ Quách nào đó phải chăng là Quách Tấn với Bá Nha để rồi kết luận : đàn của chàng Quách thỉ " ngớ ngẩn " còn thơ của chàng Phan thì " vẩn vơ "
" Hài đàm của Tản Đà :
" Thơ mới
" Từ khi Lý Bạch chết, thiên hạ không chuộng thơ mà thơ kém hay : Bởi thế mới có Phan tiên sinh ra đời.
" Từ khi Bá Nha chết, thiên hạ không chuộng đờn, mà đờn kém hay : Bởi thế mới có Quách tiên sanh ra đời.
" Phan tiên sinh cải lương về nghề thơ, ở đời chưa gặp ai tri kỷ :
" Quách tiên sinh cải lương về nghề đờn, ở đời chưa gặp ai tri âm.
" Một hôm, kỳ ngộ duyên may, hai tiên sinh gặp gỡ.
" Trong một nhà ở phố Khâm Thiên, Phan đương nằm hút ở trên gác, bỗng nghe ở dưới gác có tiếng đờn gẩy, nhân lâu rất thấy khác thường ; tiếng đờn thực hay mà như không có cung bực do bụng hoài nghi, Phan tiên sinh bước xuống bực thang, ngó thử coi thấy người nẩy đờn đó chừng cũng là một du tử mà coi ra có vẻ cao nhân, nhân bước luôn xuống thang, làm quen nói chuyện chơi. Người đó là ai ? Tức là Quách tiên sinh vậy. Rồi đó, Quách tiên sinh nói chuyện đờn, Phan tiên sinh nói chuyện thơ.
Rồi Quách đờn một chập, Phan thơ một hồi.
Rồi Quách lại đờn ; Phan lại thơ.
Rồi Phan, Quách lại truyện thơ, truyện đờn.
" Cái thú gặp tri kỷ, khó bút mực nào vẽ cho hết. Chi chủ đó nguyên là một tay tài tình, văn thơ âm nhạc, đều có hiểu qua, nhân bàn quanh một cuộc cầm thi, cũng cảm tác một bài " Thơ Mới " :
Đờn là đờn
Thơ là thơ
Thơ thời có chữ, đờn có tơ.
Nếu không phá cách vứt điệu luật,
Khó cho thiên hạ đến bao giờ !
Bá Nha xa.
Lý Bạch khuất.
Thơ có họ Phan, đờn có họ Quách,
Thơ có chữ
Đờn có tơ :
Đờn thời ngơ ngẩn, thơ vẩn vơ
Tài tử văn nhân nhường rứa rứa,
Bách huê ngao ngán bận đề thơ "
Sau bài nói kháy, chửi mát Phan Khôi và thơ mới trên Xuân Phụ Nữ Tân Văn, Tản Đà viết một thôi năm sáu bài về thơ mới đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy vào cuối năm 1934 :
1)- Phong trào thơ mới muốn cùng ai trong bạn làng thơ (T.T.T.B. số 26 ngày 24-11-1934).
2)- Cùng các bạn làng thơ (T.T.T.B. số 28)
3)- Tính chất của thơ (T.T.T.B. số 30 và số 32)
4)- Một chữ trong nghề thơ (T.T.T.B. số 40)
Bài " Phong trào thơ mới muốn cùng ai trong bạn làng thơ " là để thương xác với Lưu Trọng Lư về bài diễn thuyết ông đọc ở nhà Học hội Qui NHơn.
Với một tâm hồn cởi mở, và những lời lẽ rất ư là khiêm tốn, Tản Đà đã bày tỏ thái độ của ông đối với thơ mới, thơ cũ. Tản Đà cho rằng giữa lúc xảy ra vụ tranh chấp thơ cũ thơ mới thì Tản Đà không có mặt ở Hànội, cho nên không theo rõi được sự diễn biến của cuộc chiến. Phải chăng đây là thời kỳ Tản Đà đang buồn chán vì An nam tạp chí của ông bị chết lần thứ tám, tức là lần chót. Biến cố đau thương đó đã khiến Tản Đà tủi dỗi đời nên tự đặt mình ra bên ngoài xã hội :
" Mới đây một người bạn tôi gởi cho bài diễn thuyết của ông Lưu Trọng Lư đọc ở nhà Học hội Qui Nhơn, tôi đọc tới bài đó, tâm hồn xúc động, không thể lại lẳng lặng mà ngồi yên. Cứ như bài diễn văn của ông Lư, cảm tưởng và kiến giải, phần nhiều thiệt tôi lấy làm phải, có nhiều chỗ lại thấy rất là tinh.
" Song mà trong sự quan sát cũng còn có chỗ không tường xác ; cái kiến giải để hướng đạo cho quần chúng coi chưa đủ phát dương hiệu lệnh trên thi đàn. Bài tôi viết đây, không chuyên cùng ông Lưu Trọng Lư biện luận, cho nên không dẫn đến những chỗ mà tôi cho hơn kém ấy. Nay tôi chỉ cần muốn biện bạch trước độc giả, công chúng vì thấy có mấy lời trong bài diễn văn của ông Lư.
" Trong bài ông Lư nói, ngay một đoạn mở đầu rằng : " gần đây, trong văn học nước nhà thấy có một cái phong trào mạnh danh là " thơ mới". Cái phong trào ấy dư luận chia ra làm hai, phái hoan nghênh và phái phản đối. Tôi không cần nói, các ngài cũng dư hiểu rằng phái hoan nghênh là phái thanh niên tân học, phái phản đối là các cụ nho học. Hai bên đương sừng sộ nhau đương giằng co nhau ".
" Ông Lư đã nói, chắc là ông có thấy như thế, mà lâu nay tôi xa đất Hà Thành, thực tình trạng trong văn giới như sao, ít có tiếp đến tai mắt, riêng về phần tôi, thời như lời ông Lư nói đó, tôi quả không phục tình. "
Sau đó, gián tiếp Tản Đà muốn bảo rằng cái mà người ta gọi là thơ mới, Tản Đà vẫn làm, làm từ lâu, từ 20 năm nay mà chỉ khác là ông không gọi nó là thơ mới. Ông trích mấy bài thơ ông đã làm trên dưới hai chục năm :
" Cứ văn vận của tôi đã làm ra trong khoảng 20 năm nay, kể có không ít ; mà nay nếu có người hỏi tôi rằng : bài nào hay hơn hết ? Thời phải lấy một bài trong cuốn tiểu thuyết Giấc mộng con thứ hai, làm cho Dương Quí Phi, Tây Thi...ở Bồng Lai, bài ấy rằng :
Non xanh xanh
Nước xanh xanh
Nước non như vẽ bức tranh tình.
Non nước tan tành
Giọt lệ tràn năm canh.
*
Đêm năm canh
Lụy năm canh
Nỗi niềm non nước,
Đó ai quên cho đành !
*
Quên sao đành ?
Nhớ sao đành ?
Bồng lai non nước xanh xanh ?
" Cuốn tiểu thuyết ấy viết ra, trong khi tôi giúp việc Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ ở Nam, là khoảng năm 1926 cách đây đã 8 năm.
" Lại như bài " Cảm thu liễu thư  " của tôi, một đoạn tả cảnh ở đầu rằng :
" Từ vào thu đến nay
Gió thu hiu hắt
Sương thu lạnh
Trăng thu bạch
Khói thu xây thành
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly.
Nhạn về...
" Mấy câu đó, riêng tôi thật ngâm mãi không chán ; mà bài văn đó tới nay ở trong báo Saigon lại có người lại đem ra để phê bình, kể cái thời gian tôi viết ra thời vào khoảng năm 1921, trong lúc tôi làm việc cho báo Hữu Thanh, cách đây có 14 năm.
" Lại như những bài " Hoa rụng " in ra ở Khối tình con, lời văn rằng :
" Hoa ơi, hoa hỡi, hoa hời !
Đang ở trên cành bỗng chốc rơi !
Nhị mềm cành úa,
Hương nhạt mầu phai
Sống chưa bao lâu đã hết đời
Thế mà hoa lại sướng hơn người.
. . . .
" Bài này viết ra, kể cách nay có tới 20 năm.
" Những điệu văn thơ đó, thật tự tôi đặt ra, không theo niêm luật ở đâu hết, duy tôi không gọi nó là thơ mới mà thôi. "
Ngày 8-12-1934, Tản Đà viết bài " Cùng các bạn làng thơ " (An nam tạp chí số 28), bàn về ý nghĩa của thơ mà ông phân biệt làm nghĩa rộng, nghĩa hẹp.
Về nghĩa rộng của thơ, Tản Đà viết :
" Theo nghĩa rộng mà nói, thì thơ là lương năng của mọi người, cho nên không có hạng người nào đều có thể nên thơ. Như thế, phạm vi của thơ thật rất rộng, hàm người ta nói ra mà hơi có vần, đều là thơ, không thể cách phi hết. Những thơ đó, theo ý kiến của người quan sát, chỉ có thể nhận cho những câu nào, những bài nào là hay; mà không thể phán đoán bảo như những câu nào, những bài nào là dở ".
" Hiểu theo nghĩa rộng, thơ là thú tiêu khiển ai cũng có thể làm được. Nhưng hiểu theo nghĩa hẹp, thơ là " một thứkỹ thuật phải người có học mới biết làm, mới làm được ; ví như đánh đàn phải có cung bực, đánh cờ phải sạch nước cản, nếu không thì không là thơ ".
Đối với Tản Đà, thơ hiểu nghĩa hẹp là các lối thơ thất ngôn, ngũ ngôn, cổ phong, tứ tuyệt. Như vậy mà trong cuộc tranh luận thơ cũ thơ mới, chữ " thơ mới ", theo Tản Đà là một danh từ lạm dụng, hiểu sai nghĩa.
Sau khi bàn về danh nghĩa của thơ, Tản Đà dành hai số báo để bàn về " Tính chất của thơ " (TTTB số 30 và 32). Theo Tản Đà, thơ có hai tính chất : tài và tình. Tài là tài nghệ, tức là thuộc về nghĩa mỹ thuật ; tình là tình hoài, tức là thuộc về nghĩa lương năng " (TTTB số 30). Tản Đà đã dựa vào hai tính chất tài và tình để tìm ra cái đẹp trong các câu thơ cũ. Không nói rõ ra, nhưng cứ theo lối trình bầy, người ta cũng nhận ra rằng thơ mới thiếu hẳn tính chất " tài ", cho nên thơ, mới là thứ thơ lệch lạc, là thứ thơ không hoàn toàn.

Những tài liệu tôi trích trên đây chưa phải là tất cả các tài liệu liên quan đến cuộc tranh luận gay go giữa thơ mới và thơ cũ và có lẽ cũng chưa phải là những bài quyết liệt nhất. Chẳng hạn ba bài diễn thuyết nảy lửa của Nguyễn Văn Hanh bênh vực thơ cũ, của Thái Phỉ công kích Lê Tràng Kiều, của Tường Vân và Phi Vân tác giả tập " Những bông hoa trái mùa ".