Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

“chỉnh chu” hay “chỉn chu?”_Nguyễn Thị Thanh Truyền

 

“chỉnh chu” hay “chỉn chu?”_Nguyễn T Thanh Truyền

 





Tóm tắt Trong các tình huống nói năng hàng ngày, chúng ta thường sử dụng "chỉnh chu" và "chỉn chu". Tuy nhiên, từ "chỉnh chu" hoàn toàn không có trong từ điển. Còn "chỉn chu" có nghĩa là "chu đáo", "cẩn thận", "không chê trách gì được". Sau khi phân tích ý nghĩa của "chỉnh chu", chúng tôi tin rằng nó đã được sử dụng hợp lý và đúng nghĩa. Và đã đến lúc "chỉnh chu" nên được chính thức thừa nhận và có một chỗ đứng "hợp pháp" trong tiếng Việt. Từ khóa: ngôn ngữ chuẩn; phát âm Nam bộ; phân tích từ vựng; ngữ nghĩa.

 1. Đặt vấn đề Nhà ngôn ngữ học người Pháp gốc Thuỵ Sĩ Charles Bally viết:
 “Ngôn ngữ ngày mai được chuẩn bị trong một loạt những cái sai của ngôn ngữ ngày hôm nay”. Điều này có nghĩa là những cái dùng không đúng của ngày hôm nay nhưng cứ lặp đi lặp lại và được cộng đồng chấp nhận thì ắt hẳn nó sẽ thành đúng và được sử dụng rộng rãi. Đó cũng là điều tất nhiên vì ngôn ngữ luôn vận động và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Ở đây, chúng ta quay lại vấn đề then chốt, đó là sự tồn tại của hai từ “chỉn chu” và “chỉnh chu”. Hằng ngày chúng ta đã chứng kiến rất nhiều trường hợp dùng cả hai từ này, nhưng từ nào mới là chuẩn, là đúng? Hay là hai từ đều tồn tại song song và đều có ý nghĩa như nhau.

 2. Nghĩa từ điển của “chỉn chu” và “chỉnh chu”
 Để hiểu rõ hơn về hai từ này, chúng tôi đã lần tìm trong một số từ điển: Lê Ngọc Trụ(1993), Tầm Nguyên tự điển Việt Nam, NXB thành phố HồChí Minh; Thanh Nghị(1958), Từ điển Việt Nam, NXB Thời-Thế, Sài Gòn; Đào Duy Anh (1957), Hán Việt từ điển, NXB Trường Thi, Sài Gòn; Hoàng Phê (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2007) định nghĩa “chỉn chu” như sau: “chỉn chu” chu đáo, cẩn thận, không chê trách gì được: quần áo chỉn chu, tính toán rất chỉn chu. Vậy theo từ điển Hoàng Phê, “chỉn chu” dùng để chỉ những con người ngăn nắp, có nề nếp, kĩ lưỡng. Ví dụ: “anh ấy là người chỉn chu”, “chị ăn mặc chỉn chu như vậy thì làm sao hợp với bầu không khí dạ hội như thế này” v.v.
 Còn “chỉnh chu” hoàn toàn không có trong bốn cuốn từ điển trên.

 3. Phân tích nghĩa của “chỉnh” và “chu”
Như trên thì rõ ràng trong từ điển không có “chỉnh chu”, vậy tại sao chúng ta vẫn nghe từ này tồn tại trong đời sống hằng ngày? Có người nghe tới “chỉnh chu” thấy lạ hoắc, còn có ý kiến thì cho rằng làm gì có “chỉn chu”. Chúng ta dựa trên nguyên tắc phân tích từ trong ngôn ngữ học để giải thích trường hợp người dùng “chỉnh chu” là có cơ sở. 
      
      Trước hết chúng ta xét từ  “chỉnh” theo định nghĩa của từ điển: 

(1) Chỉnh: sửa cho ngay, cho đúng: chỉnh đốn, chỉnh tề, chỉnh trang... (Tầm Nguyên tự điển Việt Nam).

(2) Chỉnh (không dùng một mình): ngay, cân, đều, thứ tự (Từđiển Việt Nam).
       - Chỉnh đốn (đt): sửa sang, sắp đặt lại cho có thứ lớp (chỉnh đốn việc hương thôn).
       - Chỉnh nghi (đt): sửa sang cho được sáng sủa, oai phong.
       - Chỉnh tề (tt): ngăn nắp, gọn gàng, đâu ra đấy.
       - Chỉnh tu (bt): tu chỉnh, sắp đặt, sửa lại. 

        Và hàng loạt những từ ghép khác gần nghĩa như: chỉnh lý, chỉnh sức, chỉnh túc, chỉnh trang...

         (1) Chỉnh: nguyên thể, hoàn toàn có thứ tự, ngay ngắn, cân xứng (Hán Việt từ điển).
       - Chỉnh bị: chỉnh đốn cho sẵn sàng. 
       - Chỉnh dung: sửa sang dung mạo cho gọn.
       - Chỉnh đốn: sửa sang, sắp đặt cho chỉnh tề. 

         Và những từ gần nghĩa như: chỉnh lý, chỉnh nghi, chỉnh sức, chỉnh tề, chỉnh túc, chỉnh vũ... cũng có nghĩa là sửa sang, sắp đặt lại cho gọn.

       (2) Chỉnh: theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thuộc hai lớp từ loại là tính từ và động từ: cân đối, có trật tự hợp lí, đúng quy tắc giữa các thành phần cấu tạo: đối câu rất chỉnh.

       - (đg) sửa lại vị trí, tư thế cho ngay ngắn, cho đúng: chỉnh lại đường ngắm, chỉnh lại tư thế ngồi trước khi chụp ảnh. 

       Và các từ ghép có yếu tố “chỉnh” như: chỉnh đốn, chỉnh hình, chỉnh huấn, chỉnh lí, chỉnh lưu, chỉnh sửa, chỉnh tề, chỉnh thể, chỉnh trang... 

        Vậy, như trên đã tìm hiểu, chúng ta thấy rằng từ “chỉnh” là một từ có khả năng tồn tại độc lập (là thực từ) thuộc hai lớp từ loại: động từ và tính từ. Thứ đến, chúng ta thử đi tìm nghĩa của từ “chu” và xem nó có khả năng vận dụng độc lập hay không.

       (1)  Trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “chu” thuộc hai lớp từ loại là động từ và tính từ.
      - (đg) chúm môi lại và dẩu ra phía trước.
      -(t) [khg] đầy đủ và đạt mức yêu cầu, có thể làm cho yên tâm, hài lòng: được thế này là chu lắm.

       (2) Trong Tầm nguyên từ điển, “chu”có nghĩa là “giáp vòng”, “vây xung quanh”.

        (3) Trong Từ điển Việt Nam, “chu” có nghĩa là “quanh khắp” và cũng được đọc là “châu” (châu vi).

      (4) Trong Hán Việt từ điển, “chu” cũng có nghĩa là vòng xung quanh hình tròn (chu báo, chu kỳ, chu lưu, chu san) và cũng có nghĩa là đến nơi đến chốn (chu đáo, chu toàn, chu tất...)

Như vậy, “chu” ở đây có nghĩa là một cái gì đó toàn vẹn, tròn trịa, cẩn thận, đạt đến mức làm cho người ta cảm thấy hài lòng, không để sơ suất. Từ này cũng có khả năng vận dụng độc lập nếu dùng trong khẩu ngữ: “Được thế này là chu lắm”(Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.226).

4. “Chỉnh chu”, đúng hay sai?

        Theo phân tích ý nghĩa của từ “chỉnh” và “chu” như trên, chúng tôi thấy rằng dùng từ “chỉnh chu” (thay vì “chỉn chu”) là không sai và hoàn toàn có cơ sở. 
      “Chỉnh chu” trường hợp này rõ ràng là một từ ghép đẳng lập với hai tính từ “chỉnh” và “chu”, cũng có thể so sánh như các trường hợp: “ăn ngủ”, “đi đứng”, “cười nói”... vậy. 

       Chỉnh (tt) (cân đối, có trật tự hợp lí, đúng quy tắc...) + chu(tt) (toàn vẹn, tròn trịa, cẩn thận, đạt đến mức làm cho người ta cảm thấy hài lòng, không để sơ suất) = chỉnh chu. 

       Chúng ta vẫn thường nghe một số cách nói như: “Anh ấy trông thật chỉnh chu”, “anh ấy là nguời chỉnh chu”.Rõ ràng trong những trường hợp này “chỉnh chu” là tính từ, có nghĩa dùng để chỉ một người kỹ lưỡng, lịch sự, đứng đắn, không chê trách gì được. 

       Và nếu như vậy thì rõ ràng nghĩa của “chỉnh chu” là sự kết hợp nghĩa của “chỉnh” và “chu”. Đối với “chỉn chu”, đây là một từ đã được hợp thức hoá trong từ điển, nó có nghĩa như trên đã đề cập. 

      “Trông cô ấy chỉn chu quá!”, “Anh Nam là người tính toán rất chỉn chu”.

      Và như vậy, có thể nói: “Trông cô ấy chỉnh chu quá!”, “Anh Nam là người tính toán rất chỉnh chu”. 

       Rõ ràng hai từ này cùng để biểu hiện một ý nghĩa giống nhau. Hơn nữa, bàn về mặt từ vựng thì chúng ta cũng nên đề cập đến vấn đề ngữ âm. Âm tiết “chỉn” [cin3] trong phương ngữ Bắc được phát âm bằng một nguyên âm dòng trước. Nhưng trong phương ngữ Nam nguyên âm dịch vào giữa, và được phát âm thành “chửn”. Mặt khác, trong phương ngữ Nam, vần “-inh” cũng được phát âm thành “-ưn” (Hoàng Thị Châu,(2004), tr.182).
 Như vậy trong phương ngữ Nam, vần “-in” và “-inh” được phát âm giống nhau và được phát âm thành ưn”. Trường hợp “chỉn” và “chỉnh” cũng được phát âm giống nhau thành “chửn”. Đây cũng là nguyên nhân hai từ “chỉn chu” và “chỉnh chu” cùng tồn tại song song trong các tình huống nói năng hằng ngày.

 5. Kết luận “Một chuẩn ngôn ngữ cuối cùng có hình thành và thực tế có tồn tại được hay không, là do số đông có thật sự chấp nhận và vận dụng nó hay không trong thực tiễn ngôn ngữ của mình” (Hoàng Phê, 1980).

       Và “chỉnh chu” trong trường hợp này cũng thế, nó được xã hội sử dụng. Thiết nghĩ, “chỉnh chu” đã đến lúc cũng phải được thừa nhận một cách hợp thức hoá như “chỉn chu” và tạo cho nó một chỗ đứng “hợp pháp” trong tiếng Việt. Hơn nữa,ngôn ngữ không phải là một “công trình” đã hoàn toàn bất di bất dịch, mà là một hoạt động đang diễn ra, khi trí tuệ con người làm việc không ngừng nghỉ để thích ứng với âm thanh, chất liệu ngữ âm và sự thể hiện của tư duy. Nó luôn vận động và phát triển không ngừng, chúng ta phải biết chấp nhận khi nó được sản sinh từ những nguồn gốc có cơ sở và mang “gen” của những nguồn gốc ấy, nghĩa là chấp nhận nó một cách có căn cứ. Điều đó góp phần làm cho ngôn ngữ phát triển một cách tự nhiên, làm giàu cho lớp từ vựng và làm cho tiếng Việt ta ngày càng giàu và phong phú hơn.
Nguyễn Thị Thanh Truyền

Ý kiến đọc giả:

1.
Theo hiểu biết của hắn, hắn chọn chữ "chỉnh chu" để dùng hơn là chữ "chỉn chu". Chữ "chỉn" hắn thấy thiêu thiếu cái gì đó. Mà nói thật lòng chữ "chỉn chu" hắn mới biết khoảng chục năm nay, và ngay cả chữ "chỉnh chu" hắn cũng chưa quen dùng vì chữ "chỉnh chu" có sách viết là được gom lại từ hai chữ "chỉnh tề và chu đáo", điều này theo hắn không có nghĩa gì cả khi trở thành một từ ngữ kép "chỉnh chu", nếu nói về ăn mặc hắn thường dùng chữ y phục "chỉnh tề" hơn là 2 cặp chữ kia vì chữ "tề" chỉ trạng thái ngay ngắn, đều đặn, bằng nhau. 
Các bác cùng thời với hắn vào sáu, bảy mươi năm trước, lúc đi học chắc cũng như hắn vì sách giáo khoa của bộ giáo dục miền nam lúc đó không dùng 2 cặp chữ này, nếu có chỉ là dùng là trong khu dân bắc di cư mà thôi, nếu bảo là trong dân gian thì miền nam ngày trước, mười người chưa chắc được một người biết chữ "chỉnh chu" để dùng, mà chỉ dùng chữ chỉnh như "điều chỉnh" chứ không cụt ngũn là "chỉn". Trong giới trẻ ngày nay họ còn dùng chữ thời đại như "chuẩn không cần chỉnh" nghĩa là đúng hết rồi, không cần chỉnh sửa nữa, cũng là một dạng chữ "chỉnh" đẹp, hắn chịu !!!.
Bài viết có đoạn "Nhà ngôn ngữ học người Pháp gốc Thuỵ Sĩ Charles Bally viết:
 Ngôn ngữ ngày mai được chuẩn bị trong một loạt những cái sai của ngôn ngữ ngày hôm nay”.
Hắn hoàn toàn đồng ý với nhà ngôn ngữ học Charles Bally, những cái gì hắn thấy đúng khi hắn đi học ngày trước nay sửa đổi lại mà không phân tích được rõ ràng chữ nghĩa nhưng cứ lập đi lập lại(người miền nam dùng chữ lặp(ă) không phải lập(â) như bắc kỳ hắn) trên báo chí, trên đài truyền hình, trong sách giáo khoa của nhà nước sẽ thành đúng và được xử dụng rộng rãi, những chữ đúng ngày trước trở thành sai. Hắn vừa viết chữ "xử dụng" mà không viết "sử dụng" như phần đông người VN, cũng bắt nguồn từ câu nói trên. 
 Ngày trước, hắn được học, được hội thảo và giảng dạy cho học sinh sự khác biệt của những chữ đồng âm mà trái nghĩa như 2 chữ "xử" và "sử".
"Xử" là động từ, một hành động theo cách nào đó đối với người khác trong một hoàn cảnh nhất định một hành động, thể hiện thái độ đối với người khác trong một hoàn cảnh nhất định.
 Chữ "xử" trong tiếng Việt có nhiều nghĩa
Ví dụ: "xử thế" (cách ứng xử), "xử án" (giải quyết vụ án), "xử nữ" (cô gái chưa chồng),xử tệ với bạn bè, tình huống khó xử, "Xử trí" (giải quyết), "khu xử" (sắp xếp), "xử lý công việc", "xử bắn", "xử tử hình",  "Xử sự" và "xử dụng" (cách dùng, là mode d'emploi), mọi chữ đều viết là "X" không có chữ nào dùng "S" 
Còn chữ "sử" được dùng như Sử sách, lịch sử. “quốc sử”
Lịch sử là nghĩa thông dụng nhất khi ta nói đến chữ "sử" như sách Lịch sử Việt Nam của Trần Trọng Kim ; sách "sử ký" của Tư Mã Thiên.
Cũng do hắn được học và phân tích như vậy nên cho dù bảo là hắn viết không đúng như mọi người, hắn vẫn không thay đổi vì hắn không muốn thua thêm mặt trận văn hóa nữa. Đâu phải là báo chí, đài truyền hình nhà nước viết nhan nhản là "sử dụng",mà không giải thích hợp lý, số đông a dua theo là chuyện của họ, hắn có lý lẽ của hắn, "hắn là cái của hắn là, không là cái của người khác là", đơn giản vậy thôi !!!
 Hắn vẫn dùng chữ "xử dụng" của nền giáo dục VNCH ngày trước. Ai muốn dùng như thế nào thì dùng là quyền của họ, hắn có sai đâu mà bảo là hắn "ngoan cố".
Bài này Chả Quế gởi cho hắn đọc cũng lâu rồi, cũng lười không định gởi đi, vì vừa đọc được một bài viết có nói đến hai chữ này nên hắn phiếm chút chuyện.
 Thỉnh thoảng cũng nói chuyện với vợ về ngôn ngữ 2 miền, vì Chả Quế cũng có lúc là đồng nghiệp với hắn,  được một cái vợ chồng thuận nhau ở điểm này, thuận vợ thuận chồng, ta cùng tát biển đông há em!!! 
Ara

 2.   Từ "chỉn chu" mới xuất hiện sau 30/4/75. Tôi không chấp nhận từ "chỉn chu" nên không bao giờ dùng 2 từ nầy.
   Tôi rất đồng ý với cách giải thích của tác giả về "chỉnh chu" là đúng và hợp lý hơn "chỉn chu". Bây giờ đã có 99% người viết "chỉn chu" rồi, họ chỉ tin vào sách vở miền bắc thì chữ viết sai thành chữ viết đúng, chữ viết đúng thành chữ viết sai, dĩ nhiên số ít sẽ bị loại. Có người lý luận họ chọn lựa cách viết theo số đông không cần biết đúng hay sai, hợp lý hay không hợp lý. Nhưng tôi với Ara thì nhất quyết không làm theo cái sai của họ .
     Chả Quế  


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Đào Duy Anh (1957), Hán Việt Từ điển, NXB Trường Thi, Sài Gòn.
2.Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt,NXB ĐHQG HN.
3.Thanh Nghị(1958), Từ điển Việt Nam, NXB Thời –Thế, Sài Gòn.
4.Hoàng Phê (1980), “Chuẩn hóa tiếng Việt về mặt  từ vựng”, Ngôn ngữ, số 1.
5.Hoàng Phê (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
6.Lê Ngọc Trụ(1993), Tầm Nguyên tự điển Việt Nam, NXB thành phố HồChí Minh. 7.Nguyễn Đức Tồn (2013), “Quan điểm mới về chuẩn ngôn ngữ và chuẩn hoá thuật ngữ”, Ngôn ngữ, số1.
8.Bài đã đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống,

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2025

Xuất xứ và giai thoại văn chương Tha Hương Ngộ Cố Tri_Trần-Lâm Phát

 

Từ xưa đến nay, ai cũng nghe qua 5 chữ Tha hương ngộ cố tri nhưng ít người để ý nó phát xuất từ đâu.

Nhiều sách in lại bài đồng giao Cửu hạn phùng cam vũ

久旱逢甘雨,

Cửu hạn phùng cam vũ

鄉遇故知。

Tha hương ngộ cố tri

洞房花燭夜,

Động phòng hoa chúc dạ

金榜題名時。

Kim bảng đề danh thì

 

https://zh.wikisource.org/zh-hans/%E7%A5%9E%E7%AB%A5%E8%A9%A9

Bài này của Uông Thù, đời Bắc Tống , bài thứ 20 trong 48 bài trong Thần đồng thi 神童詩.

Uông Thù 汪洙 tự Đức Ôn 德溫; người Ninh Ba 寧波 đỗ Tiến sĩ năm 1100 đời Triết Tông.

Ngày xưa chữ Hán (chữ Nho) rất khó học và khó nhớ nên các cụ thầy mới viết ra Ấu Học Ngũ Ngôn Thi gồm 278 câu thơ 5 chữ cho dễ học. Bài Cửu hạn phùng cam vũ ở trang 17/18 của Ấu Học Ngũ Ngôn Thi 幼學五言詩 do nhà xuất bản Liễu Văn Đường ấn bản năm 1863 đời vua Tự Đức thứ 16 và hiện lưu trử ở thư viện quốc gia Hà nội. Tuy nhiên các cụ thay chữ đề 題 thành chữ quải ở câu 4 và chữ thì 時 viết theo lối cổ :

 

http://hannom.nlv.gov.vn/hannom/cgi-bin/hannom?a=d&d=BNTwEHieahcPB1863&e=-------vi-20--1--txt-txIN%7CtxME------


久旱逢甘雨,

Cửu hạn phùng cam vũ,

Nắng lâu gặp mưa giải hạn

鄉遇故知.

Tha hương ngộ cố tri.

Xa quê gặp bạn cũ

洞房花燭夜,

Động phòng hoa chúc dạ,

Đuốc hoa đêm động phòng

金榜掛名時.

Kim bảng quải danh thì.

Bảng vàng treo có tên thi đậu

 Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) ông hài hước về thơ Tàu nên thêm hay chữ đầu để nói lên tứ hỉ 四喜:

十年久旱逢甘雨    Thập niên cửu hạn phùng cam vũ    Mười năm nắng lâu gặp mưa giải hạn

千里他鄉遇故知Thiên lý tha hương ngộ cố tri           Xa quê ngàn dặm gặp bạn cũ

淑女洞房花燭夜,   Thục nữ động phòng hoa chúc dạ    Gái trinh trắng có đuốc hoa đêm động phòng

訥儒 金榜掛名時    Nột nho kim bảng quải danh thì      Người dốt thấy có tên thi đậu trên bảng vàng

 Thủ Khoa Nghĩa không dừng lại ở đó mà hài hước thêm hai chữ khác thành ra tứ khổ 四苦:

鹽田久旱逢甘雨,

Diêm điền cửu hạn phùng cam vũ

Ruộng muối nắng lâu gặp mưa giải hạn

逃債他鄉遇故知。

Đào trái tha hương ngộ cố tri

Trốn nợ gặp bạn cũ nơi xứ người

奄患洞房花燭夜,

Yễm hoạn động phòng hoa chúc dạ

Hoạn thư có đuốc hoa đêm động phòng

仇人 金榜掛名時。

Cừu nhân kim bảng quải danh thì

Kẻ thù có tên thi đậu trên bảng vàng

 Vỉginia 10-10-2022

Trần-Lâm Phát

 Sau đây là nguyên bản 48 bài thần đồng thi:

神童诗

Thần đồng thi

天子重英豪,文章教爾曹。萬般皆下品,惟有讀書高

Thiên tử trọng anh hào, văn chương giáo nhĩ tào.

Vạn bản giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao

少小須勤學,文章可立身。滿朝朱紫貴,盡是讀書人。

Thiểu tiểu tu cần học, văn chương khả lập thân.

Mãn triêu chu tử quý, tận thị độc thư nhân

學問勤中得,螢窗萬卷書。三冬今足用,誰笑腹空虛。

Học vấn cần trung đắc, huỳnh song vạn quyển thư.

Tam đông kim túc dụng, thùy tiếu phúc không hư.

自小多才學,平生志氣高。別人懷寶劍,我有筆如刀。

Tự tiểu đa tài học, bình sinh chí khí cao

Biệt nhân hoài bảo kiếm, ngã hữu bút như đao.

朝為田舍郎,暮登天子堂。將相本無種,男兒當自強

Triêu vi điền xá lang, mộ đăng thiên tử đường.

Tương tương bổn vô trọng, nam nhi đương tự cường.

學乃身之寶,儒為席上珍。君看為宰相,必用讀書人

Học nãi thân chi bảo, nho vi tịch thượng trân.

Quân khán vi tể tướng, tất dụng độc như nhân

莫道儒冠誤,詩書不負人。達而相天下,窮則善其身。

Mạc đạo nho quan ngộ, thi thư bất phụ nhân.

Đạt nhi tương thiên hạ, cùng tắc thiện kỳ thân.

遺子滿贏金,何如教一經。姓名書錦軸,朱紫佐朝廷

Di tử mãn doanh kim, hà như giáo nhát kinh.

Tính danh thư cầm trục, chu tử trá triêu đình.

古有千文義,須知後學通。聖賢俱間出,以此發矇童。

Cố  hữu thiên văn nghĩa, tu tri hậu học thông.

Thánh hiền câu gian xuất, dĩ thứ phát mông đồng.

神童衫子短,袖大惹春風。未去朝天子,先來謁相公

Thần đồng sam tử đoản, tụ đại nhạ xuân phong.

Vị khứ triêu thiên tử, tiên lai yết tương công.

年紀雖然小,文章日漸多;待看十五六,一舉便登科。

Niên kỷ tuy nhiên tiểu, văn chương nhật tiệm đa.

Đãi khán thạp nhũ lục, nhất cử tiện đăng khoa.

大比因時舉,鄉書以類升。名題仙桂籍,天府快先登

Đại bi nhân thì cử, hương thư dĩ loại thăng.

Danh đề tiên quế tịch, thiên phú khoái tiên đăng.

喜中青錢選,才高壓眾英。螢窗新脱跡,雁塔早題名。

Hỉ trung thanh tiền tuyển, tài cao àp chúng anh.

Huỳnh song tân thoát tích, nhạn tháp tảo đề danh

年少初登第,皇都得意回。禹門三汲浪,平地一聲雷

Niên thiểu sơ đăng đệ, hoàng đô đắc ý hồi.

Vũ môn tam cấp lãng, bình địa nhất thanh lôi.

一舉登科日,雙親未老時。錦衣歸故里,端的是男兒

Nhất cử đăng khoa nhật, song thân vị lão thì.

Cẩm y qui cố lý, đoan đích thị nam nhi.

玉殿傳金榜,君恩賜狀頭。英雄三百輩,隨我步瀛洲

Ngọc điện truyền kim bảng, quân ân tứ trạng đầu.

Anh hùng tam bách bối, tùy ngã bộ doanh châu.

慷慨丈夫志,生當忠孝門。為官須作相,及第必爭先。

Khảng khái trượng phu chí, sanh đương trung hiếu môn.

Vi quan tu tác tương, cập đệ tất tranh tiên.

宮殿岧嶢聳,街衢競物華。風雲今際會,千古帝王家。

Cung điện thiều nghiêu tủng, nhai cù cạnh vật hoa.

Phong vân kim tế hội, thiên cổ đế vương gia.

日月光天德,山河壯帝居。太平無以報,願上萬言書。

Nhật nguyệt quang thiên đức, san hà tráng đế cư.

Thái bình vô dĩ báo, nguyện thượng vạn ngôn thư.

久旱逢甘霖,他鄉遇故知。洞房花燭夜,金榜題名

Đại hạn phùng cam lâm, tha hương ngộ cố tri.

Động phòng hoa chúc dạ, kim bảng đề danh thì.

土脈陽和動,韶華滿眼新。一枝梅破臘,萬象漸回春

Thổ  mạch dương hòa động, thiều hoa mãn nhãn tân.

Nhất chi mai phá lạp, vạn tượng tiệm hồi xuân.

 柳色侵衣綠,桃花映酒紅。長安遊冶子,日日醉春風

Liễu sắc xâm y lục, đào hoa ánh tửu hồng.

Trường An du dã tử, nhạt nhạt túy xuân phong.

淑景餘三月,鶯花已半稀。欲沂誰氏子,三嘆詠而歸

Thục cảnh dư tam nguyệt, oanh hoa dĩ bán hi.

Dục nghi thùy thị tử, tam thán vịnh nhi quy.

數點雨餘雨,一番寒食寒。杜鵑花發處,血淚染成丹

Sổ  điểm vũ dư vũ, nhất phiên hàn thực hàn.

Đỗ quyên hoa phát xứ, huyết lệ nhiễm thành đan.

春到清明好,晴添錦繡文。年年當此節,底事雨紛紛

Xuân đáo thanh minh hảo, tình thiêm cẩm tú văn.

Niên niên đương thử tiết, đẻ sự vũ phân phân.

風閣黃昏雨,開軒納晚涼。月華當户白,何處遞荷香

Phong các hoàng hôn vũ, khai thiên nạp vãn lương.

Nguyệt hoa đương hộ bạch, hà xứ đệ hà hương.

漏盡金風冷,堂虛玉露清。窮經誰氏子,獨坐對寒檠

Lậu tận kim phong lãnh, đường hư ngọc lộ thanh.

Cùng kinh thủy thị tử, độc tọa đối hàn kềnh.

秋景今宵半,天高月倍明。南樓誰宴賞,絲竹奏清音。

Thu cảnh kim tiêu bán, thiên cao nguyệt bội minh.

Nam lâu thùy yến thưởng, ti trúc tấu thanh âm.

一雨初收霽,金風特送涼。書窗應自爽,燈火夜偏長

Nhất vũ sơ thu tễ, kim phong đặc tống lương.

Thư song ứng tự sáng, đăng hỏa dạ thiên trường.

庭下陳瓜果,雲端望彩車。爭如郝隆子,只曬腹中書。

Đình hạ trần qua quả, vân đoan vọng thải xa.

Tranh như hác long tử, chỉ sái phúc trung thư.

九日龍山飲,黃花笑逐臣。醉看風落帽,舞愛月留人

Cửu nhật long san ẩm, hoàng hoa tiếu trục thần.

Túy khán phong lạc mạo, vũ ái nguyệt lưu nhân.

昨日登高罷,今朝再舉觴。菊花何太苦,遭此兩重陽

Tạc nhật đăng cao bãi, kim triêu tái cử thương.

Cúc hoa hà thái khổ, tao thử lưỡng trọng dương.

北帝方行令,天晴愛日和。農工新築土,共慶納嘉禾

Bắc đế phương hành lệnh, thiên tình thái nhật hòa.

Nông công tân trúc thổ, cộng khánh nạp gia hòa.

簾外三竿日,新添一線長。登台觀氣象,雲物喜呈祥。

Liêm ngoại tam can nhật, tân thiêm nhất tuyến trường.

Đăng thai quan khí tượng, vân vật hỉ trình tường.

值嘉平候,年華又欲催。江南先得暖,梅蕊已先開

Thì trị gia bình hậu, niên hoa hựu dục thôi.

Giang nam tiên đắc noãn, mai nhị dĩ tiên khai.

冬季更籌盡,春隨斗柄回。寒暄一夜隔,客髯兩年催

Đông quý canh trù tận, xuân tùy đẩu bính hồi.

Hàn huyên nhất dạ cách, khách nhiêm lưỡng niên thôi.

解落三秋葉,能開二月花。過江千尺浪,入竹萬杆斜

Giải lạc tam thu diệp, năng khai nhị nguyệt hoa.

Quá giang thiên xích lãng, nhập trúc vạn can tà.

人在豔陽中,桃花映面紅。年年二三月,底事笑春風。

Nhân tại diễm dương trung, đào hoa ánh diện hồng.

Niên niên nhị tam nguyệt, để sự tiếu xuân phong.

院落沉沉曉,花開白雪香。一枝輕帶雨,淚濕貴妃妝。

Viện lạc trầm trầm hiểu, hoa khai bạch tuyết hương.

Nhất chi khinh đái vũ, lệ thấp quý phi trang.

枝綴霜葩白,無言笑曉風。清芳誰是侶,色間小桃紅

Chi chuế sương ba bạch, vô ngôn tiếu hiểu phong.

Thanh phương thùy thị lữ, sắc gian tiểu đào hồng.

傾國姿容別,多開富貴家。臨軒一賞後,輕薄萬千花

Khuynh quốc tư dung biệt, đa khai phú quý gia.

Lâm hiên nhất thưởng hậu, khinh bạc vạn thiên hoa.

牆角一枝梅,凌寒獨自開。遙知不是雪,惟有暗香來。

Tường giác nhất chi mai, lăng hàn độc tự khai.

Diêu tri bất nhị tuyết, duy hữu ám hương lai.

柯幹如金石,心堅耐歲寒。平生誰結友,宜共竹松看

Kha cán như kim thạch, tâm kiên nại tuế hàn.

Bình sanh thùy kết hữu, nghi cộng trúc tùng khán.

居可無君子,交情耐歲寒。春風頻動處,日日報平安

Cư  khả vô quân tử, giao tình nại tuế hàn.

Xuân phong tần động xứ, nhạt nhật báo bình an.

春水滿泗澤,夏雲多奇峯。秋月揚明輝,冬嶺秀孤松。

Xuân thủy mãn tứ trạch, hạ vân đa kỳ phong.

Thu nguyệt dương minh huy, đông lĩnh tú cô tùng.

詩酒琴棋客,風花雪月天。有名閒富貴,無事散神仙。

Thi tửu cầm kỳ khách, phong hoa tuyết nguyệt thiên.

Hữu danh khai phú quý, vô sự tán thần tiên.

道院迎仙客,書堂隱相儒。庭栽棲鳳竹,池養化龍魚。

Đạo viện nghênh tiên khách, thư đường ẩn tương nho.

Đình tài tê phụng trúc trì dưỡng hóa long ngư.

春遊芳草地,夏賞綠荷池。秋飲黃花酒,冬吟白雪詩。

Xuân du phương thảo địa, hạ thưởng lục hà trì.

Thu ẩm hoàng hoa tửu, đông ngâm bạch tuyết thi.

Nguồnhttps://zh.m.wikisource.org/zh-hant/%E7%A5%9E%E7%AB%A5%E8%A9%A9